Chào mừng các bạn đến với Website UBND Tỉnh Gia Lai   | ENGLISH | Tìm kiếm
TRANG CHỦ - TIN TỨC & SỰ KIỆN - DÀNH CHO NGƯỜI DÂN - DÀNH CHO NHÀ ĐẦU TƯ - DÀNH CHO DU KHÁCH - CHECK MAIL
  GIỚI THIỆU
  TIN TỨC
  SỰ KIỆN
  ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
  TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH
  BẢN ĐỒ
  VĂN BẢN CỦA TỈNH
  THÔNG BÁO
  THÔNG TIN CẦN BIẾT
  TRAO ĐỔI - GÓP Ý
  LIÊN KẾT WEBSITE
  WEBSITE CÁC ĐƠN VỊ
  VIDEO CLIP

Trang chủ > Giới thiệu > Gia Lai thế và lực

Gia Lai thế và lực

 
Gia Lai là một tỉnh miền núi, biên giới nằm ở phía Bắc Tây nguyên có toạ độ địa lý từ 120 58'20'' đến 140 36'30'' độ vĩ Bắc, từ 1070 27'23'' đến 1080 54'40'' độ kinh đông, phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum, phía Nam giáp tỉnh Đăk Lăk, phía Tây giáp Campuchia, với 90 km đường biên giới quốc gia, phía Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên. Tỉnh có trục quốc lộ 14 nối với tỉnh Quảng Nam và các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam bộ; trục quốc lộ 19 nối với các tỉnh các tỉnh duyên hải miền Trung, từ Quy Nhơn đi Pleiku và sang các tỉnh đông bắc Campuchia; quốc lộ 25 nối Gia Lai với Phú Yên.
 Gia Lai có độ cao trung bình 700 m so với mực nước biển, có dãy Trường Sơn hùng vĩ chia Gia Lai thành 2 vùng đông và tây Trường Sơn với khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau tạo nên sự đa dạng, độc đáo của một tỉnh cao nguyên, là vùng đất đầu nguồn của nhiều hệ thống sông lớn như sông Ba, Sê San, Ayun chảy xuống vùng duyên hải miền trung và sông Mê Kông với tiềm năng lớn về thuỷ điện. Gia Lai  có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, một năm chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa, bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10; mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Khí hậu Gia Lai thích hợp cho việc phát triển nhiều loại cây công nghiệp dài và ngắn ngày, cây ăn quả, chăn nuôi bò và kinh doanh tổng hợp nông lâm nghiệp.
 
Gia Lai có diện tích tự nhiên 15.536,9 km2 (theo Quyết định số 272/QĐ-TTg ngày 27-2-2007 của Thủ tướng Chính phủ), dân số đến cuối năm 2006 có 1.154.778 người (trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 44,6%, chủ yếu là đồng bào dân tộc Jrai chiếm 30,5% và Bahnar chiếm 12,4% dân số toàn tỉnh), so với cả nước bằng gần 4,7% về diện tích và 1,13% về dân số. Hiện nay, Gia Lai có 13 huyện, 2 thị xã và 1 thành phố với 205 xã, phường, thị trấn.
  
1/ Một số tiềm năng chính của tỉnh:
     Đất đai:
 Gia Lai có gần 800.000 ha đất lâm nghiệp, trong đó đất rừng sản xuất  537.064 ha, đất rừng phòng hộ 206.622 ha, đất rừng đặc dụng 56.106 ha. So với vùng Tây Nguyên, Gia Lai chiếm 28% diện tích lâm nghiệp, 30% diện tích đất có rừng và 38% trữ lượng gỗ. Sản lượng gỗ khai thác hàng năm cả rừng tự nhiên và rừng trồng từ 65.000 - 85.000 m3 sẽ đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu cho chế biến gỗ, bột giấy với quy mô lớn và chất lượng cao. Gia Lai còn có quỹ đất lớn để phục vụ trồng rừng, trồng cây nguyên liệu giấy.          
 Đất đai phù hợp với sản xuất nông nghiệp ở Gia Lai có gần 500.000 ha trong đó có hơn 291.000 ha đất cho trồng cây hàng năm và hơn 208.000 ha cây lâu năm. Nhưng hiện nay mới sử dụng 390.000 ha, trong đó cây hàng năm 197.000 ha và cây lâu năm 162.000 ha, do đó tiềm năng phát triển sản xuất nông nghiệp còn rất lớn.
     Khoáng sản:
 Gia Lai có nhiều khoáng sản, nổi bật nhất là vàng, nguồn vật liệu xây dựng, bô xít và đá quý.  
 Bô xít, đã phát hiện một mỏ và 4 điểm nằm ở vùng Kon Hà Nừng đã thăm dò và đánh giá trữ lượng cấp C2 là 210,5 triệu tấn với hàm lượng A12O3: 33,76%- 51,75%; SiO2: 14,04%. Ngoài ra còn có sắt, thiết, chì... nhưng với quy mô nhỏ chưa được điều tra kỹ.  
Vàng, phát hiện trên 73 điểm, trong đó có 66 điểm quặng hoá gốc và 6 điểm sa khoáng, các vùng có triển vọng là Kông Chro, Ia Mơ, Krông Pa, Ayun Pa.  
Đá vôi, phát hiện được 6 điểm, điểm có triển vọng nhất là đá vôi Chư Sê, trữ lượng khu B cấp C1 + C2 là 22 triệu tấn, đang được khai thác để phục vụ cho 02 nhà máy xi măng trên địa bàn tỉnh.
 Khoáng sản làm vật liệu xây dựng khác như đá bazan ở đèo Chư Sê, Pleiku, Chư Păh. Đá granit có trữ lượng 90,1 triệu m3.
  Đất sét làm gạch ngói phân bổ rộng khắp toàn tỉnh, nhưng tập trung lớn ở Ayun Pa, An Khê...
 
  Du lịch:
 
  Gia Lai có tiềm năng du lịch phong phú với nhiều cảnh quan tự nhiên hấp dẫn; với nền văn hoá lâu đời của đồng bào các dân tộc, chủ yếu là Jrai và Bahnar thể hiện qua kiến trúc nhà rông, nhà sàn, nhà mồ, lễ hội truyền thống, cồng chiêng Tây Nguyên, y phục và nhạc cụ...  
Voi Nhơn HoàGia Lai có bề dày lịch sử và truyền thống cách mạng hào hùng được thể hiện đậm nét qua các di tích lịch sử văn hoá như khu Tây Sơn thượng đạo, di tích căn cứ địa của Anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ; làng kháng chiến Stơr là quê hương của Anh hùng Núp; cùng với các địa danh Pleime, Cheo Reo, Ia Răng đã đi vào lịch sử.  
 
2/ Về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
 Những năm qua, kinh tế hàng năm luôn đạt tốc độ khá, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 5 năm (2001-2005) đạt 11,55%/năm. Năm 2006, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13,1%, trong đó nông lâm nghiệp thuỷ sản tăng 8,29%, công nghiệp – xây dựng tăng 22,7%, dịch vụ tăng 13,92%. GDP bình quân đầu người đạt 6,33 triệu đồng (tương đương 396 USD/người).
 Đã hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung có quy mô lớn với những sản phẩm hàng hoá chủ yếu. Đến nay, toàn tỉnh đã có 75.900 ha cà phê, 58.300 ha cao su, 19.700 ha điều, 3.575 ha tiêu, gần 14.000 ha mía, 5.670 ha bông, hơn 56.000 ha ngô, 31.730 ha sắn, 2.500 ha thuốc lá.                  
Sản xuất công nghiệp phát triển nhanh. Giá trị sản xuất công nghiệp đến năm 2006  đạt 1.765 tỷ đồng, tăng 25 % so với năm 2005.  Trên cơ sở nguồn tài nguyên về đất đai, khoáng sản, mở ra triển vọng phát triển các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản, điện năng.
 
 
 
Một số ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh đã phát huy hiệu quả:
 
  
Ngành công nghiệp chế biến nông lâm sản: với thế mạnh về cây công nghiệp, hiện  nay trên địa bàn có 8 nhà máy chế biến mủ cao su crếp, công suất 50.000 tấn; trên 60 cơ sở chế biến cà phê; 2 nhà máy chế biến hạt điều xuất khẩu, công suất 2.500 tấn/năm; 3 nhà máy chế biến chè, công suất 80 tấn/năm; 1 nhà máy chế biến gỗ MDF công suất 54.000m3/năm; hàng chục nhà máy chế biến gỗ tinh chế xuất khẩu, công suất hơn 25.000 m3/năm;  2 nhà máy chế biến đường, công suất 4.000 tấn mía cây/ngày; 4 máy chế biến tinh bột sắn, công suất 70.000tấn/năm, 01 nhà máy chế biến tiêu sạch
5.000tấn/năm, 1 nhà máy cán bông, công suất 15.000tấn/năm.
  
 Thuỷ điện Sê San 3ANgành công nghiệp điện năng: Trên địa bàn tỉnh có các nhà máy thủy điện lớn Trung ương đầu tư như: thuỷ điện Ia Ly công suất 720 MW, đã phát điện năm 2002 và đang xây dựng 3 công trình Sê San 3, Sê San 3A, Sê San 4, trong đó tổ máy số 1 của Nhà máy thủy điện Sê San 3 đã phát điện trong tháng 4/2006. Ngoài ra, còn có 85 công trình thuỷ điện nhỏ với tổng công suất lắp máy gần 200MW đang triển khai xây dựng; trong đó có 17 nhà máy thủy điện đã đưa vào hoạt động; nhà máy thủy điện Ia Grai 3, H'Chan đang trong giai đoạn hoàn thiện để đưa vào phát điện năm 2006; trên 10 công trình thuỷ điện khác đang hoàn thiện thủ tục để khởi công.
  
  Ngành công nghiệp sản xuất VLXD: Hiện có 2 nhà máy xi măng với công suất 14,2 vạn tấn/năm đến nay đã phát huy vượt công suất; 5 nhà máy đá granit đã đưa vào hoạt động với tổng công suất khoảng 450.000 m2/năm; Các doanh nghiệp khai thác đá xây dựng đủ sản lượng để cung cấp cho nhu cầu xây dựng các công trình trong tỉnh.
 
  Khu công nghiệp Trà Đa với diện tích 124,5 ha, có 24 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, lấp đầy trên 80% diện tích; tỉnh đang quy hoạch khu công nghiệp Tây Pleiku với diện tích 600 ha. Ngoài ra tỉnh Gia Lai còn có các cụm công nghiệp ở các địa bàn Thị xã An Khê, huyện Chư Sê, huyện Ayun Pa... là những địa điểm thuận lợi nhiều mặt cho các nhà đầu tư triển khai thực hiện các dự án đầu tư.
 
 Khu kinh tế cửa khẩu 19 với diện tích 110 ha, đã đầu tư 28 tỷ đồng để phát triển cơ sở hạ tầng, kế hoạch năm 2007 sẽ tiếp tục đầu tư 17 tỷ đồng để hoàn thiện các hạng mục thiết yếu. 
  
 Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ năm 2005 gấp 2,2 lần so với năm 2000, tăng bình quân 17,3%/năm; năm 2006 đạt 4.488 tỷ đồng. Các hoạt động dịch vụ: tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông, giao thông đường bộ, đường không thuận lợi, đđiều kiện hoạt động trong cơ chế hội nhập kinh tế quốc tế.
  
 Tổng vốn đầu tư phát triển 5 năm 2001-2005 là 13.265 tỷ đồng, năm 2006 đạt 4.600 tỷ đồng. Nguồn vốn đầu tư ngày càng đa dạng, trong đó nguồn vốn của khu vực kinh tế tư nhân ngày càng tăng.  
 
 Gia Lai có hệ thống giao thông khá thuận lợi, có Quốc lộ 19 nối thành phố Pleiku với cảng Quy Nhơn tỉnh Bình Định dài 180km. Các quốc lộ 14, 25 nối Gia Lai với các tỉnh Tây Nguyên và duyên hải miền trung, thuận tiện cho việc vận chuyển hành hoá đến cảng để xuất khẩu và các trung tâm kinh tế lớn của cả nước. Sân bay Pleiku hoạt động mỗi tuần có 6 chuyến từ thành phố Hồ Chí Minh đi Pleiku - Đà Nẵng - Hà Nội và ngược lại. Đến nay, Gia Lai có 14/14 tuyến đường từ tỉnh xuống huyện, thị xã đã được rải nhựa, 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã,  bình quân có 10 máy điện thoại/100 dân; 99,5% xã, phường, thị trấn có điện.
 
Các lĩnh vực văn hoá xã hội có nhiều tiến bộ, cơ sở vật chất được đầu tư nâng cấp. Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, là kiệt tác truyền khẩu của nhân loại.
  
Để tạo môi trường thuận lợi thu hút vốn đầu tư, bên cạnh các chính sách khuyến khích ưu đãi chung của cả nước, UBND tỉnh Gia Lai đã ban hành quyết định số 451/QĐ-UB ngày 11/6/2003 quy định khuyến khích và hỗ trợ đầu tư.  Quá trình phát triển kinh tế xã hội và những tiềm năng sẵn có chính là thế và lực mới giúp cho Gia Lai phát  triển ổn định và bền vững. Nhưng với  nguồn lực còn hạn chế, Gia Lai rất cần có sự đầu tư trên mọi lĩnh vực để khai thác tiềm năng và lợi thế của tỉnh. Hy vọng trong những năm tiếp theo, Gia Lai cũng vẫn là cơ hội và môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

THÔNG BÁO

  Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính
Văn phòng UBND tỉnh thông báo việc tổ chức tiếp nhận phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính như sau: Địa chỉ tiếp nhận: Tại cơ quan: 01 Hai Bà Trưng, TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai; Tại Website của UBND tỉnh: http://www.gialai.gov.vn hoặc http://www.ubgialai.gov.vn; Chuyên mục: “Phản ánh, kiến nghị về thủ tục hành chính”; Email: caicachhanhchinh@gialai.gov.vn; Điện thoại: (059).824404, 824468, 211352, 211353

Thời tiết   (9/9/2010)
 KV phía tây tỉnh

20 - 300C

 KV đông-đông bắc

22 - 320C

 KV đông nam tỉnh

24 - 330C

 TP. Pleiku

20 - 300C

Đất & người vẫy gọi
Con người Gia Lai
Di tích & Thắng cảnh
Lễ hội & Phong tục
Thư viện ảnh Gia Lai

TRẢ LỜI ĐƠN THƯ GIỮA
CHÍNH QUYỀN & NGƯỜI DÂN

ĐỐI THOẠI DOANH NGHIỆP
VỚI CHÍNH QUYỀN

PHẢN ÁNH - KIẾN NGHỊ
VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

HƯỚNG DẪN THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH

ẢNH ĐẸP GIA LAI

Tượng đài văn hóa tại Pleiku