1- Mục tiêu chủ yếu của giai đoạn 2006 - 2015
Phấn đấu đạt mức tăng trưởng GDP bình quân 12,5%/năm giai đoạn 2006 - 2015. Đến năm 2015, GDP bình quân đầu người gấp 2,2 lần so với năm 2010.
2- Mục tiêu chủ yếu của giai đoạn 2006 - 2010
Phấn đấu đạt mức tăng trưởng GDP hàng năm từ 12,5% trở lên, trong đó: nông lâm nghiệp tăng 7,7%, công nghiệp - xây dựng tăng 19%, dịch vụ tăng 14,5%. Đến năm 2010, GDP bình quân đầu người gấp 2,14 lần năm 2005.
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đến năm 2010, nông - lâm nghiệp chiếm 38%, công nghiệp - xây dựng 31,5%, dịch vụ 30,5%.
Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngành dịch vụ và xuất khẩu, tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 465 triệu USD, tăng bình quân 22%/năm và đạt 130 triệu USD vào năm 2010.
Tăng cường quản lý và khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên; nâng độ che phủ của rừng và cây lâu năm lên 65%.
3. Phát triển nông lâm nghiệp
Phát triển nhanh sản xuất nông nghiệp hàng hoá, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, chú trọng đầu tư chiều sâu các vùng sản xuất tập trung với cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý gắn với công nghiệp chế biến và thị trường để khai thác hiệu quả lợi thế so sánh của từng vùng, từng sản phẩm. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển hiệu quả, bền vững và hướng về xuất khẩu.
Cây cao su: Tiếp tục trồng mới 1 vạn ha cao su ở những nơi có điều kiện; đưa diện tích đến năm 2010 lên 70.000ha. Xây dựng các cơ sở sơ chế và các cơ sở sản xuất cao su, đảm bảo chế biến hết và nâng cao chất lượng sản phẩm cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Cây cà phê: Đầu tư thâm canh và ổn định 70.000 ha cà phê gắn với công nghệ sau thu hoạch để nâng cao chất lượng sản phẩm. Đầu tư đồng bộ hóa hệ thống thuỷ lợi, sân phơi, cơ sở chế biến và pha chế tinh, chuyển dần sang sản xuất cà phê sạch nhằm nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm cà phê trên thị trường xuất khẩu.
Cây điều: Trồng mới và tiếp tục cải tạo giống điều, đưa diện tích điều lên 22.000 ha; đồng thời xây dựng các cơ sở chế biến hạt điều xuất khẩu.
Cây hồ tiêu: Ổn định diện tích hồ tiêu 3.400 ha; phát triển thương hiệu hồ tiêu Gia Lai ra thị trường quốc tế.
Cây bông: Đưa diện tích bông lên 10.000 ha; áp dụng tiến bộ kỹ thuật để rải vụ.
Phát triển mô hình chăn nuôi trang trại theo hướng công nghiệp, tạo tiền đề phát triển công nghiệp chế biến súc sản, thuộc da. Đẩy mạnh chương trình “lai hoá đàn bò, nạc hoá đàn heo”, đến năm 2010, tỷ lệ bò lai đạt trên 40%, tỷ lệ nạc hoá đàn heo trên 30%; khuyến khích phát triển nuôi trồng thuỷ sản; phát triển mạnh nghề nuôi ong...
Quản lý bảo vệ diện tích rừng hiện có, trồng mới 30.000 ha, khoanh nuôi tái sinh khoảng 66.000 ha.
Mở rộng các vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung, tạo điều kiện đẩy mạnh phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến nông - lâm sản; khôi phục và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống.
4- Phát triển công nghiệp
Ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp có khả năng cạnh tranh và còn nhiều tiềm năng như thuỷ điện, chế biến nông - lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng, khai khoáng...Phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân trên 20%/năm.
Công nghiệp chế biến cà phê, cao su, điều: Phát triển nhiều loại hình sơ chế đảm bảo sơ chế hết nguồn nguyên liệu ngày càng cao hơn. Có chính sách ưu đãi đặc biệt để khuyến khích và kêu gọi vốn đầu tư xây dựng một số nhà máy sản xuất sản phẩm cao su và cà phê tinh chế gắn với nhu cầu của thị trường để nâng cao hiệu quả kinh tế.
Công nghiệp chế biến mía đường, lương thực: Tiếp tục đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ để mở rộng quy mô sản xuất gắn với yêu cầu phát triển của vùng nguyên liệu, đồng thời khẩn trương đa dạng hóa mặt hàng phù hợp với nhu cầu của thị trường nhằm ổn định sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế.
Công nghiệp chế biến đồ uống từ quả: Tiềm năng phát triển còn rất lớn, nhưng đây là ngành hoàn toàn mới mẻ đối với Gia Lai. Dự kiến quy hoạch vùng nguyên liệu quả các loại có quy mô từ 3.000 - 5.000 ha ở huyện Mang Yang và một phần ở huyện Đak Đoa gắn với xây dựng từ 1-2 nhà máy chế biến các sản phẩm quả đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, sản phẩm chủ lực là các sản phẩm từ cây dứa. Hiện nay tỉnh đang có chính sách để phát triển nhanh vùng nguyên liệu, dự kiến khi có đối tác đầu tư, tỉnh sẽ tiếp tục có chính sách hỗ trợ để trong vòng 3 năm xây dựng đồng bộ cả nhà máy và vùng nguyên liệu.
Công nghiệp chế biến gỗ: Hiện nay trên địa bàn tỉnh cơ sở chế biến gỗ lớn nhất là nhà máy sản xuất ván MDF công suất 54.000m3/năm. Hàng mộc ở Gia Lai đã được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới. Thời gian tới cần tiếp tục đổi mới công nghệ, đa dạng hóa mặt hàng, giảm chi phí để nâng cao sức cạnh tranh. Có chính sách ưu đãi đặc biệt để khuyến khích đầu tư cơ sở chế biến bột giấy gắn với trồng rừng nguyên liệu giấy.
Công nghiệp điện năng: Được coi là công nghiệp mũi nhọn của Gia Lai. Nhu cầu điện của cả nước còn rất lớn, tiềm năng thuỷ điện ở Gia Lai còn nhiều, dự kiến Trung ương (các Tổng Công ty) sẽ đầu tư các công trình lớn như Sê San 3, Sê San 3A, An Khê, Ka Nak, Sông Ba hạ... Còn tỉnh sẽ có chính sách ưu đãi để khuyến khích và kêu gọi vốn của các nhà đầu tư để khai thác các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ theo phương thức liên doanh hoặc BOT, BT...
Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: Tiếp tục phát huy công suất của 2 nhà máy xi măng hiện có với công suất 10-14,2 vạn tấn/năm; hỗ trợ và ưu đãi đầu tư để xây dựng mới các cơ sở sản xuất gạch nung Tuynen ở An Khê, Ayun Pa với công suất khoảng 20 triệu viên/năm, xây dựng nhà máy đá ốp lát xuất khẩu 1 triệu m2/năm.
Xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp: Ưu tiên đầu tư xây dựng mở rộng khu công nghiệp Trà Đa để thu hút các doanh nghiệp có trình độ công nghệ cao. Quy hoạch xây dựng khu công nghiệp Nam Hàm Rồng, phát triển các cụm công nghiệp Diên Phú (Pleiku), Chư Păh, Chư Sê, An Khê, Ayun Pa, Krông Pa. Hình thành khu công nghiệp Tây Pleiku để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
5- Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Huy động nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển. Cùng với Trung ương sớm hoàn thành việc nâng cấp Quốc lộ 19, 14, 14C, xây dựng đường Trường Sơn Đông, hoàn thành xây dựng đường Hồ Chí Minh đoạn tránh qua thành phố Pleiku; mở rộng và xây dựng đường tránh qua các thị xã, thị trấn. Tiếp tục nhựa hoá và mở rộng các tuyến tỉnh lộ, một số đoạn có mật độ giao thông cao; nâng cấp đường 670 theo tiêu chuẩn cấp III miền núi; rải mặt cấp phối và nhựa hoá một số tuyến liên xã; sửa chữa nâng cấp và mở mới các tuyến đường nội thành, nội thị. Tiếp tục thực hiện chương trình bê tông hoá đường giao thông nông thôn.
Sớm hoàn thành công trình thuỷ lợi Ia Mlah, hồ Ia Dreh, hồ Tân Sơn. Thúc đẩy triển khai các công trình thuỷ lợi lớn như Ia Tul, suối HLơ, Ia Mơ, Ia Lâu. Tiếp tục đầu tư xây dựng mới một số công trình vừa và nhỏ.
6- Phát triển thương mại dịch vụ và du lịch
Tăng cường dự báo và phân tích, đánh giá thị trường; hỗ trợ thông tin, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại cho các doanh nghiệp. Phấn đấu đưa tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ trên thị trường tăng bình quân 16%/năm; hình thành và phát triển mạnh các dịch vụ tổng hợp như dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thông tin, tư vấn, chuyển giao công nghệ...
Chú trọng đẩy mạnh xuất khẩu và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu, mở rộng thị trường.
Phát triển khu kinh tế cửa khẩu Đức Cơ thành khu kinh tế cửa khẩu quốc tế và đô thị biên giới, là đầu mối giao lưu kinh tế của các tỉnh Tây Nguyên, duyên hải miền Trung với Campuchia.
Xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch đa dạng, độc đáo bao gồm du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, tham quan nghiên cứu... Tỉnh sẽ đầu tư bằng vốn ngân sách để xây dựng một số kết cấu hạ tầng quan trọng đồng thời có chính sách ưu đãi và kêu gọi các nhà đầu tư vốn để kinh doanh du lịch; liên kết chặt chẽ giữa du lịch Gia Lai với hệ thống du lịch các tỉnh, thành phố ven biển miền Trung, Tây Nguyên, thành phố Hồ Chí Minh... Phấn đấu đến năm 2010 có thể thu hút khoảng 20.000 lượt khách quốc tế, 80.000 lượt khách trong nước.
7- Định hướng phát triển các vùng trong tỉnh
Vùng động lực
Bao gồm thành phố Pleiku, thị xã An Khê, huyện Ayun Pa và Chư Sê. Đây là các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật và là đầu mối giao lưu giữa các vùng trong tỉnh, với các tỉnh, thành trong cả nước và quốc tế; cơ cấu kinh tế chủ yếu của vùng này là công nghiệp - thương mại và dịch vụ. Xây dựng thành phố Pleiku trở thành trung tâm chính trị, khoa học công nghệ, công nghiệp chế biến, dịch vụ thương mại; thị xã An Khê và Ayun Pa, Chư Sê trở thành các đô thị trung tâm của các huyện phía Đông, Đông Nam và phía Nam của tỉnh.
Vùng vành đai kinh tế
Bao gồm vùng vành đai của các vùng động lực gắn với thị trấn các huyện, các trục giao thông quan trọng, các vùng cây công nghiệp tập trung như Pleiku - Đak Đoa - Măng Yang, Pleiku - Chư Păh, Pleiku - Ia Grai, Pleiku - Chư Prông - Đức Cơ, Ia Grai - Chư Păh, Chư Sê - Chư Prông, An Khê - KBang - Kông Chro - Ia Pa, An Khê - Đak Pơ, Ayun Pa - Ia Pa - Krông Pa.
8. Các lĩnh vực xã hội:
Dân số - lao động: Dự báo dân số trên địa bàn tỉnh năm 2010 khoảng 1,34 triệu người, số người trong độ tuổi lao động đã qua đào tạo lên 28-30% năm 2010.
Về giáo dục đào tạo: Đến năm 2010, bảo đảm trên 70% trẻ em trong độ tuổi được hưởng chương trình giáo dục mầm non; hoàn thành chương trình phổ cập trung học cơ sở; coi trọng chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục chuyên sâu ở cả vùng thuận lợi và vùng khó khăn. Tiếp tục thực hiện xã hội hoá giáo dục; mở rộng quy mô các trường nội trú và trường bán trú. Phát triển Phân hiệu đại học Nông - Lâm thành phố Hồ Chí Minh tại Gia Lai, tiến tới thành lập Trường đại học Gia Lai.
Về văn hóa thông tin, thể dục thể thao: Nâng diện phủ sóng phát thanh truyền hình đạt 100%; Tất cả các huyện, thị xã đều có trung tâm văn hóa - thể thao; Đầu tư thỏa đáng cho các hoạt động duy trì, bảo tồn, phát huy truyền thống văn hoá của các dân tộc. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong nhân dân.
Về y tế: Thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, đảm bảo trên 95% trẻ em được tiêm chủng mở rộng; giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng xuống dưới 25%, giảm tỷ lệ mắc bệnh và chết do các bệnh sốt rét, lao, viêm phối, viêm não, sốt xuất huyết, thương hàn…; loại trừ uốn ván trẻ sơ sinh, khống chế bệnh sởi, giảm tỷ lệ lưu hành bệnh phong xuống dưới 0,2/10.000 dân vào năm 2010. Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm y tế cho đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, đối tượng chính sách, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2010.
|