Chào mừng các bạn đến với Website UBND Tỉnh Gia Lai   | ENGLISH | Tìm kiếm
TRANG CHỦ - TIN TỨC & SỰ KIỆN - DÀNH CHO NGƯỜI DÂN - DÀNH CHO NHÀ ĐẦU TƯ - DÀNH CHO DU KHÁCH - CHECK MAIL
  GIỚI THIỆU
  TIN TỨC
  SỰ KIỆN
  ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
  TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH
  BẢN ĐỒ
  VĂN BẢN CỦA TỈNH
  THÔNG BÁO
  THÔNG TIN CẦN BIẾT
  TRAO ĐỔI - GÓP Ý
  LIÊN KẾT WEBSITE
  WEBSITE CÁC ĐƠN VỊ
  VIDEO CLIP

Trang chủ > Đất và người vẫy gọi > Con người Gia Lai

Con người Gia Lai

Gia Lai là một tỉnh miền núi - biên giới nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao 600 - 800 mét so với mực nước biển. Chiếm tuyệt đai đa số cư dân bản địa ở Gia Lai là hai dân tộc Jrai và Bahnar. Theo những tài liệu dân tộc học và khảo cổ học thì có thể giả định địa danh cư trú gốc của người Jrai là cao nguyên Pleiku và hai lưu vực sông Ayun và sông Ba. Rồi từ địa bàn đó, dần dần người Jrai tiến xa lên về phía tây và về phía bắc. Còn người Bahnar thì cư trú chủ yếu ở đông bắc tỉnh Gia Lai (huyện An Khê, huyện Kbang, huyện Kông Chro và huyện Mang Yang) và ở đông nam tỉnh Kon Tum (quanh thị xã Kon Tum, huyện Kon Plông).

Hai dân tộc Jrai và Bahnar không chỉ là hai dân tộc lớn nhất, có ý thức rõ về địa vực lưu trú, mà còn có những tác động nhất định đối với các dân tộc khác trong khu vực.

Tên gọi dân tộc Gia Lai:

Tên gọi khác Giơ-rai, Chơ rai, Tơ Buăn, Hơbau, Hdrung, Chor

Nhóm ngôn ngữ:

Malayô - Pôlinêxia

Dân số:

240.000 người

Cư trú: Cư trú tập trung ở tỉnh Gia Lai, một bộ phận ở tỉnh Kon Tum và phía bắc tỉnh Đăk Lăk

Click chon de phong lon Đặc điểm kinh tế:

Người Jrai sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt nương rẫy, lúa tẻ là cây lương thực chính. Công cụ canh tác của người Jrai giản đơn, chủ yếu là con dao chặt cây, phát rừng, cái cuốc xới đất và cây gậy chọc lỗ khi tra hạt giống. Chăn nuôi trâu, bò, lợn, chó, gà phát triển. Xưa kia, người Jrai có đàn ngựa khá đông. Người Jrai còn nuôi cả voi. Đàn ông thạo đan lát các loại gùi, giỏ, đàn bà giỏi dệt khố váy, mền đắp, vải may áo cho gia đình. Săn bắn, hái lượm, đánh cá là những hoạt động kinh tế phụ khác có ý nghĩa đáng kể đối với đời sống của họ xưa và nay

Click chon de phong lon Tổ chức cộng đồng:

Người Jrai sống thành từng làng (plơi hay buôn). Trong làng ông trưởng làng cùng các bô lão có uy tín lớn và giữ vai trò điều hành mọi sinh hoạt tập thể, ai nấy đều nghe và làm theo. Mỗi làng có nhà rông cao vút.

Hôn nhân gia đình:

Dân tộc Jrai theo truyền thống mẫu hệ, phụ nữ tự do lựa chọn người yêu và chủ động việc hôn nhân. Sau lễ cưới, chàng trai về ở nhà vợ, không được thừa kế tài sản. Trái lại, con gái lấy chồng lần lượt tách khỏi cha mẹ ra ở riêng, được phân chia một phần tài sản. Con cái đều theo họ mẹ. Ngoài xã hội, đàn ông đóng vai trò quan trọng hơn, nhưng trong nhà phụ nữ có ưu thế hơn. Ngày xưa, có tục những người cùng dòng họ (theo phía mẹ), khi chết chôn chung một hố, nay tục này đã giảm.

Click chon de phong lon Văn hóa:

Nói đến dân tộc Jrai phải kể đến những trường ca, truyện cổ nổi tiếng như "Đăm Di đi săn", "Xinh Nhã"... Dân tộc Jrai cũng độc đáo trong nghệ thuật chơi chiêng, cồng, cạnh đó là đàn T'rưng, đàn Tưng - nưng, đàm Krông - pút. Những nhạc cụ truyền thống này gắn liền với đời sống tinh thần của đồng bào. Người Jrai hầu như hát múa từ tuổi nhi đồng cho đến khi già yếu, không còn đủ sức nữa, mới chịu đứng ngoài những cuộc nhảy múa nhân dịp lễ hội tổ chức trong làng hay trong gia đình.

Click chon de phong lon   Nhà cửa:

Có nơi ở nhà dài, có nơi làm nhà nhỏ, nhưng đều chung tập quán ở nhà sàn, đều theo truyền thống mở cửa chính nhìn về hướng bắc.

Trang phục:

Có nét riêng trong phong cách tạo hình và trang trí. Mặc dù hoa văn trang trí cụ thể các nhóm khác nhau nhưng có thông số chung của tộc người.

Click chon de phong lon Trang phục nam:

Thường nhật, nam đội khăn, theo lối quấn nhiều vòng trên đầu rồi buông sang một bên tai, hoặc quấn gọn ghẽ như khăn xếp của người Kinh, khăn màu chàm. Nhìn chung nam giới Jrai đóng khố, khố này thường ngắn hơn khố ngày hội, là loại vải trắng có kẻ sọc.

Ngày lễ họ mang khố màu chàm (dài 410 cm x 29 cm), khố loại này được trang trí hoa văn màu trắng, đỏ thành các đường viền ở mép khố, đặc biệt hai đầu với các tua trên nền chàm. Có nhóm ở trần, có nhóm mang áo (loại cộc tay và loại dài tay màu chàm, khoét cổ chui đầu). Loại áo cộc tay thường có đường viền chỉ màu trắng bên sườn. Loại áo dài tay giống phong cách áo dài nam Ê-đê hay Mnông.

Trang phục nữ:

Phụ nữ để tóc dài búi sau gáy hoặc quấn gọn trên đỉnh đầu. Áo là loại áo ngắn, chui đầu, phổ biến là kiểu chui đầu cổ "hình thuyền", riêng nhóm Jrai Mthur lại có kiểu cổ thấp hình chữ V và các loại cổ phổ biến. Trên nền chàm áo được trang trí các sọc hoa văn theo bố cục ngang thân áo ở cổ, vai, ống tay, giữa ngực, gấu áo và hai cổ tay áo, đó là các sọc màu đỏ xen trắng và vàng trên nền chàm hoặc màu xanh nhạt diệp và màu chàm. Váy là loại váy hở quấn vào thân (kích thước trên dưới 140 cm x 100 cm). Phong cách trang trí trên váy cũng thiên về lối bố cục ngang với các đường sọc màu (như áo là chính). Có nhóm ở Pleiku với nguyên tắc trên nhưng được mở rộng thành các mảng hoa văn ở giữa thân váy, nửa thân dưới áo và hai ống tay. Trang sức có vòng cổ, vòng tay.

XÃ HỘI JRAI

Người Jrai cư trú chủ yếu ở tỉnh Gia Lai, dân số 242.291 người[1][1][1]. Dân số năm 1963 (theo tài liệu của Lafont, trong sách Tlơi djuat, luật tục của bộ lạc Jrai) là 150.000 người.                                                       

 Tên tự gọi của đồng bào là Jrai. Jrai (jrăy) còn có nghĩa là thác nước. Có người phỏng đoán là tổ tiên của người Jrai vốn cư trú ven sông Ia Yun, Ia Pa, Ia Ly nơi có nhiều ghềnh thác lớn, nổi tiếng, do đó họ có tên là Jrai. Người Jrai có các nhóm địa phương như: Chor, Hdrung (gồm cả Hbau, Chon), Aráp và Tbuăn).                                                  

Ngôn ngữ Jrai thuộc nhóm Malayô - Pôlinêdi, cùng nhóm ngôn ngữ với người Chăm, Êđê, Raglai, Churu.

Người Jrai sống bằng nghề trồng trọt là chính, kỹ thuật canh tác của đồng bào ở giai đoạn dùng cuốc. Việc nuôi trâu bò đã có từ lâu, nhưng không phải để dùng làm sức kéo, mà để hiến sinh.  Họ trồng lúa, đậu, bầu, bí, vừng, lạc, khoai và các loại cây ăn quả như chuối, mít, đu đủ…  Đất trồng chủ yếu là nương rẫy. Họ canh tác theo phương pháp đốt rừng và chọc lỗ tra hạt. Có những mảnh rẫy được trồng luân canh theo chu kỳ 8 - 12 năm. Người Jrai phát triển chăn nuôi sớm. Đồng bào nuôi trâu, bò, ngựa, voi, lợn, chó, gà. Trâu, bò, lợn, gà để cúng yang. Voi, ngựa, để chuyên chở. Người Jrai có một số nghề phụ như mộc, đan lát, dệt vải. Việc săn bắt và thu hái lâm sản có một vị trí quan trọng trong đời sống hàng ngày của đồng bào. Đơn vị hành chính cơ sở của đồng bào Jrai là làng (plơi hoặc bôn). Tên làng thường đặt theo tên người lập làng. Ví dụ: Plơi Bạc (làng ông Bạc), Bôn Ama Hbư (làng cha Hbư), Bôn Ama Diơng (làng cha anh Djơng). Tài liệu trước đây có nhắc đến một đơn vị hành chính trên làng, Tơring, là sự liên kết của nhiều làng, nhưng hiện nay không còn thấy bóng dáng đơn vị này nữa. Tổ chức điều hành dân làng là phun pơ bút (nhóm người chủ xóm làng), tạm gọi là "hội đồng" chủ làng. "Hội đồng" này gồm một người đàn ông trên 40 tuổi và chủ của các nóc nhà. Họ được chọn theo tiêu chuẩn: nói năng giỏi, giao thiệp rộng, biết thu xếp công việc, thông hiểu phong tục, lễ nghi, giàu kinh nghiệm sản xuất, chiến đấu dũng cảm. Họ được gọi là già làng (tha plơi). "Hội đồng" cử ra một người đứng đầu gọi là pơ bút (chủ làng). Xã hội Jrai chưa phân hoá giai cấp, chưa có thống trị bốc lột. Những người được cử làm già làng, chủ làng, chỉ là những người lao động, có kinh nghiệm, có uy tín. Có một số người trở nên giàu do may mắn, có sức khoẻ, khéo léo. Tài sản dư dôi không dùng để tích luỹ, bốc lột, mà dùng để mua sắm nồi đồng, chiêng ché để trang hoàng. Người nghèo là do ốm đau bệnh tật, không gặp may. Người thiếu đói được người có của trong làng giúp đỡ một cách tự nguyện[2][2][2].

Người Jrai là một trong những tộc người có truyền thống thượng võ Tây nguyên. Xưa kia, làng được xây dựng kiên cố như một đồn luỹ với các luỹ tre dày, hào sâu, gỗ đẽo nhọn, hàng năm, bảy lớp, kèm theo chông bẫy. Các cổng làng nặng nề. Các làng có đội dân binh thường trực. Họ được tụ tập ở nhà cộng đồng để luyện tập, ngủ đêm và sẵn sàng chiến đấu. Các sử thi còn ghi lại sự tích anh hùng trong chiến đấu của người Jrai. Từ thế kỷ trước, ở người Jrai xuất hiện các Vua Lửa (Pơtao Pui), Vua Nước (Pơtao Ia), Vua Gió (Pơtao Angin). Ba vị vua này là sự biểu hiện một quan niệm triết lý sơ khai, xuyên suốt về sinh hoạt vật chất và tinh thần của người Jrai: tư duy tam hợp. Người Jrai quan niệm thế giới tự nhiên và xã hội con người được hình thành và vận động trong sự tổng - phân - hợp của ba yếu tố: Nước, Lửa và Gió. Nước tượng trưng cho người mẹ, thường yên lặng, mát và ở phía Tây. Lửa tượng trưng cho người cha, thường mạnh mẽ, nóng và ở phía Đông. Nước và Lửa thành ra con là Gió. Gió được tượng trưng cho con trai, thường hùng tráng, không nóng, lạnh và cư trú ở giữa. Trời đất được cấu tạo bằng Nước, Lửa, Gió. Gia đình được hình thành bởi Mẹ, Cha, Con. Xã hội tồn tại nhờ có Vua Nước, Vua Lửa, Vua Gió[3][3][3].

Người Jrai có quan niệm vũ trụ tam hợp. Trong lúc đó, nhiều tộc người khác, phổ biến là lưu truyền quan niệm lưỡng hợp (dualisme):

 

 

 

 

 

 

Lửa - Nước

Nóng - Lạnh

 Khô - Ẩm

 Cha - Mẹ

 

 

 

 

            Đực - Cái  [4][4][4]

Ngoài những ý nghĩa trên, với các nhân vật được gọi là Vua, không hề chứng tỏ là người Jrai đã trải qua chế độ phong kiến.

Người Jrai sống theo chế độ mẫu hệ. Gia đình nhỏ mẫu hệ là đơn vị kinh tế độc lập, trong đó người đàn bà làm chủ tài sản. Họ cũng là người quản lý công việc gia đình. Trong lúc đó, nam giới là lực lượng sản xuất chủ yếu, đóng vai trò quyết định trong công việc xã hội. Con cái tính theo dòng mẹ. Con trai, khi lấy vợ thì cư trú ở nhà vợ.

Tóm lại, nét cơ bản của kinh tế - xã hội truyền thống Jrai là: 

- Kinh tế dùng cuốc, canh tác trên nương rẫy là chủ yếu, chăn nuôi gia súc, gia cầm; kết hợp với săn bắt, thu hái lâm sản

 

 

 

 

 

 

 

 

- Xã hội tiền giai cấp, đơn vị cơ sở của xã hội là làng, tinh thần cộng đồng làng rất cao; 

- Chế độ hôn nhân và gia đình theo mẫu hệ. 

Sau khi thống nhất đất nước (1975), về mặt quan hệ xã hội, cơ bản không thay đổi, bởi theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước khuyến khích tiếp tục phát triển tinh thần đoàn kết, hợp tác, tương trợ, thương yêu nhau; không chủ trương thay đổi chế độ hôn nhân mẫu hệ. 

Về mặt kinh tế, để cho nhân dân các dân tộc thiểu số được nâng cao đời sống, Nhà nước chủ trương tạo điều kiện chuyển đổi từ nền kinh tế tự túc tự cấp, sang kinh tế hàng hoá. Nhiều vấn đề khó khăn phải đặt ra để giải quyết:  -Tài nguyên thiên nhiên là môi trường sống lâu đời của dân tộc bị phá hoại nặng nề

 

 

           - Một bộ phận, lợi dụng tôn giáo phá hoại nghiêm trọng văn hoá truyền thống

           - Do ảnh hưởng của mặt trái của kinh tế thị trường, một bộ phận thanh thiếu niên dân tộc thiẻu số gần thành thị suy thoái đạo đức, tư cách, nhiễm các tệ nạn xã hội.

GS. TSKH. PHAN ĐĂNG NHẬT: LUẬT TỤC VỚI ĐỜI SỐNG, TẬP
NXB TƯ PHÁP, HÀ NỘI - 2007 

 

  

[1][1] Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/4/1989.

[2][2] Đặng Nghiêm Vạn và…: Các dân tộc tỉnh Gia Lai - Kon Tum, NXB Khoa học xã hội, H.1981.

[3][3]J. Dournes: Pơtao-une theorie du pouvoir chez les Indochinois Jrais, Paris, Flẩmmon, 1977.

[3][4] P.M. Eveline: Etudes sur les rites agraies des Cambodgiens, t.3. Paris, Ed. Mouto. 

 

 

 

 

 

 

Vẻ đẹp trang phục dân tộc Gia Rai ở vùng núi Tây Nguyên

Nói đến dân tộc Gia Rai phải kể đến những trường ca, truyện cổ nổi tiếng như "Đăm Di đi săn", "Xinh Nhã"... Dân tộc Gia Rai cũng độc đáo trong nghệ thuật chơi chiêng, cồng, cạnh đó là đàn Trưng, đàn Tưng-nưng, đàm Krông-pút. Những nhạc cụ truyền thống này gắn liền với đời sống tinh thần của đồng bào.

Click chon de phong lon

Người Gia Rai hầu như hát múa từ tuổi nhi đồng cho đến khi già yếu, không còn đủ sức nữa, mới chịu đứng ngoài những cuộc nhảy múa nhân dịp lễ hội tổ chức trong làng hay trong gia đình.Và đặc biêt trang phục của họ có những nét riêng trong phong cách tạo hình và trang trí hoa văn. Mặc dù hoa văn trang trí cụ thể các nhóm khác nhau nhưng có thông số chung của tộc người.

Thường nhật, nam đội khăn, theo lối quấn nhiều vòng trên đầu rồi buông sang một bên tai, hoặc quấn gọn ghẽ như khăn xếp của người Kinh. Khăn màu chàm. Nhìn chung nam giới Gia Rai đóng khố. Khố này thường ngắn hơn khố ngày hội, là loại vải trắng có kẻ sọc. Ngày lễ họ mang khố màu chàm (dài 410 cm x 29 cm), khố loại này được trang trí hoa văn màu trắng, đỏ thành các đường viền ở mép khố, đặc biệt hai đầu với các tua trên nền chàm. Có nhóm ở trần, có nhóm mang áo (loại cộc tay và loại dài tay màu chàm, khoét cổ chui đầu). Loại ngắn tay thường có đường viền chỉ màu trắng bên sườn. Loại dài tay giống phong cách áo dài nam Ê-đê hay Mnông.

Phụ nữ để tóc dài búi sau gáy hoặc quấn gọn trên đỉnh đầu. Áo là loại áo ngắn, chui đầu, phổ biến là kiểu chui đầu cổ "hình thuyền", riêng nhóm Gia Rai Mthur lại có kiểu cổ thấp hình chữ V và các loại cổ phổ biến. Trên nền chàm áo được trang trí các sọc hoa văn theo bố cục ngang thân áo ở cổ, vai, ống tay, giữa ngực, gấu áo và hai cổ tay áo. Đó là các sọc màu đỏ xen trắng và vàng trên nền chàm hoặc màu xanh nhạt diệp và màu chàm. Váy là loại váy hở quấn vào thân (kích thước trên dưới 140 cm x 100 cm). Phong cách trang trí trên váy cũng thiên về lối bố cục ngang với các đường sọc màu (như áo là chính). Có nhóm ở Plây-cu với nguyên tắc trên nhưng được mở rộng thành các mảng hoa văn ở giữa thân váy, nửa thân dưới áo và hai ống tay. Trang sức có vòng cổ, vòng tay.

                         

 

Bác Hồ trong lòng đồng bào Tây Nguyên

 

 

                                                                       Nguồn: Báo Gia Lai

Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku, ngày 19-4-1946  Bác viết:… Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta, trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc. Chính phủ thì có “Nha dân tộc thiểu số” để chăm sóc cho tất cả đồng bào…”. Người kêu gọi các dân tộc anh em đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non, ủng hộ Chính phủ. Bác căn dặn “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Êđê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”. Đó không chỉ là lời nói mà còn là khẩu hiệu động viên các dân tộc anh em “quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”.

Ngày 30-111968, trong điện gửi đồng bào chiến sĩ Tây Nguyên, Bác khen ngợi: “... quân và dân Tây Nguyên già, trẻ, gái, trai, Kinh, Thượng đoàn kết một lòng, luôn luôn nêu cao truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thi đua giết giặc, lập công, giữ gìn buôn rẫy, thu được những thành tích to lớn…”.

Trong những năm tháng đất nước bị chia cắt, bằng nhiều con đường, hình thức, nhiều người con của núi rừng Tây Nguyên được ra miền Bắc học tập, công tác và không ít người được gặp Bác, được Bác tận tình thăm hỏi, động viên, nhắn gửi tình cảm của Người về với buôn làng Tây Nguyên nơi che chở và góp phần vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam.
Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên một lòng hướng về Đảng về Bác Hồ. Khi được tin Bác mất, Anh hùng Núp cùng nhiều anh em khác để tang Bác trong ba năm, không cạo râu, không cắt tóc theo phong tục của dân tộc mình để tỏ lòng thương nhớ Người cha thân yêu đã mất.

Ngày đất nước thống nhất, bằng tấm lòng, tình yêu với Bác, nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai – Kon Tum (nay là 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum) trên cơ sở thực hiện ý nguyện chung của các tầng lớp nhân dân các dân tộc Tây Nguyên với ý nghĩa “Không được đón Bác vào thăm thì làm nhà rước Bác vào ở”. Với nghị lực và lòng quyết tâm, công trình Nhà trưng bày về Bác được khởi công ngày 2-9-1982, sau 2 năm khẩn trương thi công với sự đóng góp nhiệt thành, bằng cả tấm lòng, đúng vào dịp kỷ niệm lần thứ 94 Ngày sinh của Người (19-5-1984), công trình được khánh thành và đưa vào hoạt động. Nhà trưng bày sau này trở thành Bảo tàng Hồ Chí Minh- Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum, là công trình tưởng niệm về Bác ở khu vực Tây Nguyên. Từ khi đi vào hoạt động, Bảo tàng không chỉ đón hàng triệu lượt đồng bào Tây Nguyên, cả nước, vinh dự đón nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta và nhiều nước bạn đến thăm, dâng hương tưởng niệm.

Đến bảo tàng, ngoài hàng ngàn tư liệu, hình ảnh giới thiệu về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác, người xem còn thấy ở đây có nhiều hiện vật có giá trị lịch sử thể hiện tình cảm, tấm lòng của đồng bào Tây Nguyên với Bác. Trong số các hiện vật đó có tượng Bác Hồ - được đúc thủ công tại làng Yít Phang, xã Ia Lang, huyện Đức Cơ với chất liệu đồng, mô phỏng khi Bác ở mặt trận Đông Khê; Bản điêu khắc Di chúc- bằng gỗ lồng mức, dưới hình thức cưa lộng, nhũ vàng, đây được xem như một tác phẩm nghệ thuật duy nhất hiện nay ở Việt Nam; Tượng Bác Hồ - được tạc bằng gỗ hương, một loại gỗ quý của núi rừng Tây Nguyên, cao 1,84 mét, thời gian thực hiện suốt 9 tháng mới hoàn thành… Ông Đinh Thanh Hoàn- người tạc tượng Bác, kể lại vào ngày 2-9-1945 tại Ba Đình, từ xa, thấy Bác Hồ đọc “Tuyên ngôn Độc lập” đã ghi vào tâm khảm của ông hình ảnh về Bác. Năm 1982, tỉnh Gia Lai- Kon Tum tiến hành xây dựng nhà trưng bày về cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh và có lời đề nghị ông tạc tượng Bác đặt tại gian long trọng. Ông đã làm việc bằng tất cả tình cảm của mình cũng như ước vọng của đồng bào Tây Nguyên đối với Bác Hồ. Năm 1984 trước khi khánh thành, pho tượng toàn thân về Bác được đặt ở gian long trọng nhất và cũng là vị trí mà mỗi người khi đến thăm Bảo tàng đều nhìn thấy hình ảnh Vị Cha già dân tộc vẫy chào, môi nở nụ cười đôn hậu.

Trong không khí mừng Xuân Kỷ Sửu- 2009 và kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập Đảng (3-2-1930– 3-2-2009), người dân Gia Lai và khu vực Tây Nguyên như vui hơn khi Đảng bộ, chính quyền Gia Lai quyết định đầu tư nâng cấp, mở rộng Bảo tàng Hồ Chí Minh nhằm phục vụ đông đảo cán bộ và nhân dân, khách tham quan đến dâng hương, dâng hoa trong các dịp lễ, Tết, tổ chức các sự kiện chính trị của tỉnh, làm nơi tuyên truyền, bảo tồn di sản văn hóa, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh- tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.

                                                                                  NGUYỄN GIÁC

 

 

Tháng 3 về trên đất Tây Nguyên

 

            Gia Lai đã bước vào tháng 3, đây là lúc mọi người cảm nhận rõ ràng hơn sức sống và nét đẹp của mùa vàng vùng đất quanh năm ắp đầy nắng gió, của những cánh chim chao nghiêng bên rừng chiều, của những bước chân rộn ràng, xao động bởi các chàng trai, cô gái Banar, Jrai. Tháng 3 về cũng là lúc hàng vạn người dân bản địa đang sinh sống ở khắp các vùng miền trên địa bàn tỉnh Gia Lai tổ chức nhiều lễ hội như lễ bỏ mả, lễ mừng lúa mới. Chính những hình thức sinh hoạt văn hóa độc đáo, đặc sắc mang đậm sắc thái của  núi rừng Tây nguyên đó đã góp phần đáng kể làm nên đời sống tinh thần của người Jrai, Banhar.

                 Click chon de phong lon

                Tháng 3 về với những cơn gió vi vút vờn đùa trong khóm lá. Tháng 3 về với từng giọt nắng vàng ươm như mật ngọt trải khắp núi đồi Gia Lai. Có lẽ chưa lúc nào mỗi người chúng ta lại có dịp được mắt thấy, tai nghe từng vũ điệu mùa về rõ ràng như lúc này. Đây là thời điểm người Bahnar và Jrai tổ chức các lễ hội cầu cho mùa màng bội thu, tưởng nhớ đến người đã khuất. Chứng kiến một buổi lễ bỏ mả hay còn gọi là lễ Pơ thi, tôi không khỏi ngạc nhiên bởi cách làm, cách nghĩ đơn giản nhưng cũng không kém phần nhân văn của người Jrai và Bahnar đang sống ở khắp 17 huyện, thị xã và thành phố trên địa bàn tỉnh. Người Jrai và Bahnar cũng như một số tộc người khác ở Tây Nguyên tin rằng, sau khi chết, linh hồn sẽ về thế giới bên kia sống với tổ tiên. Nhưng linh hồn của người chết không đi hẳn, không sống hẳn với thế giới bên kia, mà sau một thời gian sẽ trở lại - tái sinh làm người bằng cách nhập vào thể xác của những đứa trẻ. Chính do quan niệm như vậy nên họ có cách ứng xử riêng với người chết, và có tục làm lễ bỏ mả để tiễn đưa linh hồn người chết ra đi. Chỉ sau lễ bỏ mả đó, linh hồn người chết mới hoàn toàn tách khỏi mọi ràng buộc với cuộc sống, mới thực sự về với cội nguồn của mình, còn người sống thì được giải phóng khỏi mọi liên hệ với người chết. Trong tiếng cồng chiêng trầm hùng, những điệu múa trang trọng lưu luyến và bên những ngôi nhà mồ uy nghi, trầm mặc cùng thời gian, người già, người trẻ trong làng đều ngồi lại bên nhau. Họ không nói to, không nói nhiều nhưng dường như ai cũng cảm nhận được sự biểu cảm của trái tim nhau khi cùng hướng về người đã khuất. Hay như lễ mừng lúa mới của bà con cũng vậy, giữa bầu không khí khoáng đạt, thấm đẫm sắc hương núi rừng, mỗi chàng trai, cô gái rộn ràng trong điệu múa xoang, trong tiếng chiêng mừng mùa mới. Những lúc như thế tôi lại chợt nhớ đến bài hát Tháng 3 Tây nguyên của nhạc sỹ.....Tháng ba mùa con ong đi lấy mật, mùa con voi xuống sông hút nước. Mùa em đi phát rẫy làm nương, anh vào rừng đặt bẫy cài chông....Tháng ba rừng Tây Nguyên hoa thắm đỏ, làng buôn vang tiếng chiêng múa hát, bầy chim muông cất cánh rợp trời, sông từng đàn con cá lội bơi. 

            Tháng 3 ở Gia Lai là như vậy đó, tháng 3 với những lễ hội trong âm vang của chiêng cồng, của những vòng xoang bất tận, của niềm tin và hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn. Chính nét đẹp đó, chính những đắm say, sống hết mình, buồn vui, hạnh phúc hết mình như thế đã tạo nên một nét rất riêng của đất và người Gia Lai khi tháng 3 về./.

                                                                                                                                                            Minh Hiếu 

 

 

 

Tây Nguyên, nhịp mùa đi

         Tây Nguyên, những tháng gió. Những cơn gió trở mình không vật vã, không bùng lên thành những trận cuồng phong, không làm tơi tả cỏ cây. Những cơn gió không rít gầm như bão tố ở miền duyên hải. Gió thổi dài qua núi, qua đồi, qua sông, qua thác chỉ đủ lan tỏa lên mặt đất tất cả những chất chứa ngàn năm trong lồng ngực đại ngàn sâu thẳm. Những cơn gió hoang dại và phóng túng. Tây Nguyên vào mùa gió.

Ðó là mùa mà từng đàn voi rùng rùng sải bước chân ào qua thung lũng. Mùa của những đàn chim ngược về rừng xanh bay rợp, che lấp một khoảng trời. Mùa mà từng đàn ong ríu rít rủ nhau đi làm mật. Mùa cây cối cội cằn trút lá như những chàng trai trẻ khoe cơ bắp, bộc lộ một sức sống mãnh liệt thách thức sự khắc nghiệt của không gian, thời gian...

Mùa của những con người trên núi đỏ rừng xanh thể hiện rõ nhất bản tính khoáng đạt của họ. Mùa gió là mùa đi. Mùa của những kẻ phiêu bồng trong những chuyến lữ hành vô định. Ðã bao nhiêu lần rong ruổi trên những nẻo đường gần xa của vùng đất hoang dã và bí ẩn này, tôi đã gặp họ. Người Ba Na, người Ja Rai vấn khố lội qua đầu nguồn sông Ba hùng vĩ.

Người Ê Ðê, người Mơ Nông ngập thân trong dòng K'Rông ANa, K'Rông ANô nghĩa tình rồi xuôi về thảo nguyên Madrăk. Người Châu Mạ, người Kơho ngược dòng Ðạ Dâng và thung thăng giữa cao nguyên Lang Bian, DJiring bát ngát dã quỳ vàng. Người ChuRu theo những lối mòn xuyên giữa rừng già tìm hướng về phía biển.

Có những đoàn người đi. Những người đàn bà lưng khoác gùi, mặt chúi về phía trước. Những người đàn ông đóng khố, vai trần, tay cầm xà gạc. Họ đi trong lặng thinh. Trong đầu họ là những tâm sự ẩn chìm và cũng có thể là những giấc mơ phóng túng. Những bước chân dạn dày, chắc nịch mà bay bổng. Những bước chân nhịp đều hơi thở phồn sinh của mùa. Tôi đã nhiều lần tự hỏi: Họ đi đâu? Và vẫn chưa tìm nổi câu trả lời. Làm sao có thể trả lời được câu hỏi của chính mình.

Thế rồi, tôi đã được lý giải. Vâng, thật may mắn cho tôi khi tìm được những dòng miêu tả của học giả nổi tiếng người Pháp Ðam Bo - tức Jacques Dournes, trong cuốn sách Miền đất huyền ảo, một trong hai công trình khảo cứu mà ông đã hiến tặng Tây Nguyên với tất cả tài năng và tâm huyết. Ðam Bo đặt tên cho những người đi ấy là "kẻ lữ hành". Trong tác phẩm nói trên, ông viết:

Anh ta hằng ngày sống thế nào thì cứ thế mà ra đi, hoặc gần như vậy. Buổi tối, anh quyết định mờ sáng hôm sau sẽ lên đường đi đến một làng xa nào đó, cách hai hay ba "đêm" đường...

Mặt trời vừa ló, anh đeo gùi lên lưng, chỉ mang theo đúng một nhúm gạo, và cũng có thể thêm một cái chăn. Anh cầm theo cái xà gạc, đôi khi là một ngọn giáo. Nhưng chủ yếu là phải có cái ống điếu. Bao giờ anh cũng có thể tìm được thuốc và thức ăn ở các làng hiếu khách mà anh sẽ đi qua. Ðối với anh không hề có chuyện phải dự tính trước này nọ, phải mang theo thức ăn, đồ dự phòng, quần áo để thay. Anh vốn là sao thì cứ thế mà ra đi, theo nhịp bước quen thuộc của mình, lúc nào đến thì đến.

Không bao giờ anh đi một mình. Ði cùng nhau hai hay ba người vẫn là dễ chịu hơn. Ðiều đó tạo nên sức mạnh và không phải bẽ mặt khi đến các làng xa lạ. Nhưng số người đi có đông đến đâu, họ vẫn đi theo hàng một, bước chân người đi sau dẫm đúng vết chân người đi trước; bề ngang con đường chẳng cho phép lối đi nào khác được. Một người trẻ tuổi đi trước, đàn bà đi giữa, già làng đi sau.

Khi sắp đến làng, người ta thay đổi vị trí: Già làng đi lên trước, để là người đầu tiên bước vào làng; những người khác theo sau. Kỷ luật đi đường rất nghiêm ngặt; những chặng đường dài đến hai ba mươi cây số mỗi ngày, rất ít khi dừng lại nghỉ: chỉ hai hay ba giờ một lần. Nếu người lữ hành chưa kịp đến một làng mà đêm đã đổ ập xuống, thì anh ta sẽ dừng lại nghỉ trên đường. Anh dọn một chỗ để ngả lưng, đốt lửa bốn bên, trừ chỗ gần đầu, "sợ làm óc chảy tan ra mất", cắm cây giáo sát tầm tay, đặt chiếc gùi cạnh đầu và nằm xuống. Suốt đêm, thỉnh thoảng anh trở dậy, để thổi lửa. Và sáng ra, lại sảng khoái, sẵn sàng đi tiếp một chặng đường mới.

Người ở rừng, dù Tây Nguyên hay phía bắc, đều có chung tính cách phóng khoáng và bay bổng. Những chuyến lữ hành không định trước, đi chỉ để thỏa khao khát được đi, cũng là một nét biểu hiện của bản tính đó. Ở những triền núi cao phía bắc, tôi đã từng được biết người Dao, người Hơ Mông với những chuyến xuống núi quên cả lối về. Họ nghèo, chỉ rượu ngô và mèn mén, thắng cố.

Nhưng tính cách lãng mạn và phóng túng của những người đàn ông "cõng trâu mộng qua rừng làm rẫy" thì chỉ có Phạ của họ mới hiểu nổi. Họ không chỉ say rượu, họ say tình, say chính mình, say thiên nhiên hoang dã với tất cả máu thịt và giác quan họ có. Ðẹp ngất ngây và cao hứng vô cùng là hình ảnh trên lưng chừng núi, người vợ thong thả dắt ngựa thồ chồng về ngôi nhà của mình trên dốc đá cao. Không biết trong cơn say trên lưng ngựa, những người đàn ông của núi có mơ thấy những giấc mơ thần linh khi hồn bồng bềnh qua triền đá tai mèo?...

Ở vùng quê rừng nơi đầu nguồn dòng Nậm Mộ, Nậm Nơn, tôi cũng đã gặp những người bạn Thái mà ròng rã hàng chục năm rồi không thể nào quên tấm tình của họ. Có việc qua bản, từ trên bậc cầu thang người đàn ông núi gọi: "Tày buôn ơ, pay dù hươn kin nậm chè mơ!" (Anh bạn người Kinh ơi, vào nhà ta uống nước chè mới). Chỉ có thế thôi, trước lạ sau quen, thế rồi thân tình, thế rồi kết giao, thế rồi coi nhà bạn như chính nhà mình, muốn ở đến bao lâu, muốn đi ngày nào tùy khách. Ðến bản khác, chỉ một lát sau đó, ta lại gặp ngay một người bạn mới. Chỉ một lời mời, họ sẵn sàng bỏ công, bỏ việc, bỏ nhà, bỏ bản để theo bạn về miền đồng bằng chơi ròng chơi rã cả hằng tháng trời.

Mỗi lần có dịp lang thang trên những nẻo đường Tây Nguyên, tôi lại lâng lâng trong cảm xúc về những người bạn núi. Họ như những cánh chim Tia Chôm, chim Phí bay về nguồn cội, như ngọn gió phiêu bồng tìm về bến nước thiêng. Có lẽ vì vậy, khi về nơi những buôn làng heo hút, tít tắp mờ xa dưới chân dãy Trường Sơn, tâm hồn tôi lại ám ảnh với những ca từ huyễn hoặc và giai điệu khắc khoải của của nhạc sĩ Yphôn K'sor trong ca khúc "Ði tìm lời ru mặt trời":

Một mình lang thang trên đất này,

theo dấu chân cha ông từng ngày.

Một mình qua sông, qua núi đồi,

tìm mặt trời và tìm lời ru ngàn đời...

Những đứa con của đại ngàn yêu biết bao những ngôi nhà dài, những bến nước xưa, những bức tượng nhà mồ đầy ma lực, tiếng chiêng trầm hùng hay những đêm khan. Họ khao khát được đắm chìm trong ngôn ngữ tộc người, trong dòng chảy văn hóa của xứ sở mình.

Trong thời hiện đại, những "người lữ hành" Tây Nguyên đã có những chuyến đi dài vượt qua những cánh rừng. Họ đi ra với thị thành, với rộng dài đất nước, tiếp xúc với những nền văn hóa khác nhau. Họ tìm đến cái mới và thích nghi dần với đời sống hiện đại. Nhưng, nơi họ trở về với chính tâm thức của mình vẫn là làng buôn, nương rẫy, núi rừng, với thiên nhiên bí ẩn mà gần gũi.

Ðêm đêm, bên bếp lửa nhà sàn giữa những người đồng tộc, khi cần rượu trên chiếc chóe cổ ngấm men lúa mẹ nồng nàn vít xuống là lúc tiếng chiêng ngân lên những giai điệu thiết tha. Vồng ngực căng buông thả tự nhiên, lưng trần đóng khố, họ hiện thân tràn căng sức sống giữa vũ trụ phồn sinh. Những chàng trai, cô gái của rừng lớn lên bằng nguồn sữa trào dâng từ dòng nước nguồn của những dòng sông Mẹ, sông Cha...

Trong những câu hát lãng du nồng nàn và da diết nỗi buồn trong lành của họ, tôi thấy những đôi mắt mầu nâu ánh lên giấc mơ trở về với những mùa suốt lúa thơ mộng ngày xưa.

Ðó là mùa cao nguyên trùng trùng những trận gió hoang dại. Miệng ngậm đọt lúa làm khèn Ðinh Puốt, mắt nhìn rẫy lúa đầy những chiếc chong chóng mầu đang quay. Vòng quay chầm chậm, tiếng quay buồn buồn. Tiếng lục lạc giục trâu thong thả về buôn. Tiếng đàn tre đẩy nước ngoài bến sông như kéo dài thêm dòng chảy của thời gian vĩnh cửu. Tiếng con chim bay về núi xa. Tiếng con nai, con hươu gọi bầy tha thiết. Lúa suốt xong, khi bàn chân đạp lên cuống rạ lòng bỗng nao nao buồn vì thiên nhiên đã mang hồn lúa đi về phía rừng Yàng...

Mùa gió, mùa đi. Những chuyến lữ hành không hẹn trước. Nhưng những người bạn núi đang đi trong tâm thức trở về.

                                                                            UÔNG THÁI BIỂU 

 

Cây Kơ nia bên Lăng Bác

              Lãnh đạo MTTQ tỉnh Gia Lai quyết định chỉ lấy 9 cây Kơnia (đúng với con số lẻ trong năm tuổi Bác) để trồng bên Lăng Bác. Cây sẽ được lấy ở Kon Chro - một huyện nghèo nhất tỉnh nhưng trải qua hai cuộc kháng chiến luôn là mảnh đất kiên trung, bất khuất nhất. Và để cho bà con khỏi ''thắc mắc'', 9 cây được chia đều cho 9 xã...

Lên Tây Nguyên hình ảnh đầu tiên đến với du khách là hình dáng cây Kơnia . Giữa thảo dã mênh mông cháy đỏ một sắc bazan của mùa khô nghiệt ngã, cây Kơnia vẫn hiên ngang một màu xanh bất diệt. Trong cuộc sống lao động sản xuất hằng ngày đồng bào dân tộc bản địa không bao giờ chặt phá cây Kơnia . Và nếu giữa cánh rừng, cây Kơnia có bị già lụi, họ cũng không bao giờ dùng nó vào bất cứ việc gì - dẫu là làm củi đi chăng nữa...

Không phải là một thứ cây gắn với lễ nghi như cây Pơlang, cũng không có một truyền thuyết hay một sự tích kỳ bí nào dành cho nó nhưng Kơnia đã trở thành một thứ cây tâm linh trong đời sống đồng bào dân tộc. Chính vì thế mà trong những ngày đất nước bị chia cắt, khi bài thơ "Bóng cây Kơnia'' của Ngọc Anh ra đời rồi sau đó được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc thì ''Bóng cây Kơnia'' đã ngay lập tức trở thành lời hát của lòng dân, trở thành biểu tượng của lòng dân Tây Nguyên kiên trung bất khuất hướng về Bác Hồ, hướng về cội nguồn dân tộc...

              Thật cảm động là sau đó ở nhiều vùng đồng bào dân tộc đã dùng tên "Cây Cách mạng'' để đặt tên cho cây Kơnia ... Tuy nhiên vẫn chưa có ai ngờ được rằng có một ngày cây Kơnia lại bén rễ trên đất thủ đô, tỏa bóng bên Lăng Bác...

Câu chuyện bắt đầu từ những ngày giữa năm 2002 khi đoàn đại biểu Gia Lai chuyển gỗ quý ra tu bổ Lăng Bác. Trong buổi gặp mặt thân mật, đồng chí Tư lệnh bảo vệ Lăng Bác nói:

- Cây của mọi miền đất nước đã về tụ họp bên Người, chỉ còn thiếu cây của Tây Nguyên.

            Sự gợi ý này đã làm mọi người suy nghĩ... Biết chọn cây gì  để nói hộ tấm lòng của đồng bào Tây Nguyên với Bác... Bà Rơ Châm H'Déo - nguyên Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) tỉnh Gia Lai bỗng nghĩ đến cây Kơnia . Phải, chỉ có cây Kơnia là vẹn tròn và ý nghĩa nhất. Lãnh đạo tỉnh Gia Lai nhất trí với sự lựa chọn này và giao cho MTTQ tổ chức thực hiện...

Nghe nói cây Kơnia sẽ được đưa ra để trồng bên Lăng Bác, bà con dân tộc ở đâu cũng đề nghị chọn cây ở đất mình. Họ yêu cầu trồng cho được 79 cây tượng trưng cho 79 năm tuổi Bác. Tuy nhiên, không thể đáp ứng được hết mong muốn của bà con, lãnh đạo MTTQ tỉnh quyết định chỉ lấy 9 cây đúng với con số lẻ trong năm tuổi Bác. Cây sẽ được lấy ở  Kon Chro - một huyện nghèo nhất tỉnh nhưng trải qua hai cuộc kháng chiến luôn là mảnh đất kiên trung, bất khuất nhất. Và để cho bà con khỏi ''thắc mắc'', 9 cây được chia đều cho 9 xã...

            Hôm tổ chức đào cây, xã nào cũng vui như hội. Bà con mặc những bộ quần áo dân tộc đẹp nhất theo cán bộ đi chọn cây. Kỹ sư Vẻ cùng hai người giúp việc trước đó đã được lãnh đạo MTTQ tỉnh giao nhiệm vụ đảm nhận toàn bộ khâu kỹ thuật. Phải đảm bảo làm sao cho cây nào trồng cũng phải chắc sống. Đây thực sự là một công việc không đơn giản bởi khí hậu và thổ nhưỡng thủ đô hoàn toàn khác biệt với Tây Nguyên.
            Kơnia quả là một loài cây kỳ lạ, rễ ngang ngắn nhưng rễ cọc lại ăn rất sâu. Cây cao chừng nào rễ dài chừng đó. Chỉ cần đứt một khúc rễ cọc là cây sẽ chết. Với kinh nghiệm từ lần trồng thử cây ở trụ sở Tỉnh ủy, ông Vẻ cho đào bầu rộng, cứ nửa mét lại lấy lạt tre đánh đai thật chặt. Cây cao 2m mà trọng lượng mỗi cây lên đến 1 tấn. Phải một chuyến xe Kamaz mới chở hết 9 cây...

            Ngày làm lễ trồng cây bên Lăng Bác quả là một sự kiện trọng đại và xúc động đối với đồng bào các dân tộc Gia Lai. Đoàn đại biểu gần 50 người do bà Rơ Châm H'Déo làm trưởng đoàn gồm các già làng, chức sắc tôn giáo tiêu biểu, đại diện đủ các dân tộc đang sinh sống trên mảnh đất Gia Lai. UBND tỉnh đã tặng mỗi đại biểu một bộ quần áo dân tộc truyền thống để dự lễ.

Trong không khí trang nghiêm xúc động, bà Rơ Châm H'Déo đã thay mặt đồng bào các dân tộc Gia Lai nói lên lòng biết ơn sâu sắc đối với công lao trời biển của Đảng, Bác Hồ. Lúc nào đồng bào Gia Lai cũng chỉ biết một lòng theo Bác, theo Đảng. Cây Kơnia bên Lăng Bác là biểu tượng của tấm lòng kiên trung, son sắt đó...

            Sau lễ trồng cây, 50 đại biểu vào Lăng viếng Bác. Ai cũng cố đi thật chậm để nhìn Bác được lâu hơn. Rồi những tiếng khóc bật lên không kìm nén được... Ra khỏi Lăng mọi người xin đồng chí Tư lệnh bảo vệ Lăng cho được vào viếng Bác lần nữa. Hết lần thứ hai họ lại xin lần thứ ba, lý do là vì "khóc nhiều quá nước mắt nhòa đi, không nhìn rõ Bác''. Có người còn đòi được viếng Bác lần thứ tư. Những đoàn viếng Bác có mặt hôm đó đều hết sức ngạc nhiên với một đoàn đại biểu được vào viếng Bác ba lần liên tục - và có lẽ đó cũng là điều chưa từng có ở Lăng Người...

... Giữa những ngày tháng 8 và đầu tháng 9 lịch sử, đồng bào các dân tộc Gia Lai nhận được từ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Bác tin vui: cả 9 cây Kơnia đều đã bén rễ, nảy cành xanh tốt. Và từ bấy cho đến nay, bất chấp những ngày đông rét mướt, những ngày hè nắng lửa, 9 cây Kơnia vẫn giữ một màu xanh vĩnh hằng bất diệt. Quả là một điều kỳ diệu... Cây Kơnia vẫn thổi gió về phương mặt trời mọc, vẫn uống nước nguồn miền Bắc như lòng dân Tây Nguyên muôn đời vẫn vậy... 

                                                                                        Lê Hân

 

 

 

 

 

Chuyện làng văn hóa Đê Doal  

            Làng Đê Doal được tách từ làng Dê kôp thuộc thị trấn Kon Dỡng, huyện Mang Yang từ năm 1982. Như nhiều làng đồng bào dân tộc thiểu số khác trên địa bàn tỉnh, đời sống vật chất cũng như tinh thần của đại đa số người dân ở làng Đê Doal cũng có tốc độ phát triển chậm. Tuy nhiên vài năm trở lại đây, làng đã có sự đổi thay rõ nét, nhất là từ năm 2007 khi làng được công nhận là làng văn hóa. 

            Đến huyện Mang Yang, chúng tôi thường được cán bộ nơi đây nhắc đến cái tên làng Đê Doal. Theo như lời kể của mọi người thì làng này 5 năm về trước đời sống người dân vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu lắm. Đối mặt với bữa đói, bữa no, đối mặt với những lo toan, thiếu thốn ngày giáp hạt… là chuyện thường ngày của bà con nơi đây. Vậy mà vài năm trở lại đây, làng đã có sự chuyển mình, lột xác đến bất ngờ khiến không ít người phấn khởi. Một trong những nhân tố chính tạo nên sự đổi thay đó là nhờ bà con trong làng hiểu rõ chủ trương của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số và nhất là làng thực hiện tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư".

          Hiểu rõ mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư nên hầu hết người dân trong làng đều tham gia tích cực. Nhờ được chuyển giao khoa học kỹ thuật và sự hướng dẫn kịp thời của cán bộ nông nghiệp, bà con trong làng đã biết cách làm giàu trên chính mảnh đất của mình. Chỉ sau 3 năm lao động cần cù, đời sống kinh tế của người dân phát triển rõ nét. Nhiều người làm nhà xây, trồng cây công nghiệp, trồng mỳ, quy hoạch chuồng trại quy củ. Thể hiện rõ nhất về chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm trong xây dựng kết cấu hạ tầng đó là đến nay trong làng 100% đường được bê tông hóa, nhà rông văn hóa giữ gìn khang trang, sạch sẽ. Ai cũng lo làm ăn vì thế hộ đói của làng đã giảm tương đối nhiều, đời sống người dân phát triển rất tốt.

            Năm 2007 làng Đê Doal được công nhận là làng văn hóa của thị trấn Kon Dỡng. Phải thừa nhận một điều rằng có được kết quả này, đội ngũ cán bộ quân dân chính và bà con trong làng đã phải phấn đấu nỗ lực rất lớn từ lời nói đến việc làm cụ thể. Cũng trong thời gian vừa rồi, tỉnh ta đã quyết định chọn làng Đê Doal là 1 trong 3 làng ở huyện Mang Yang đầu tư để trở thành làng văn hóa du lịch. Tính đến đầu năm 2010 đã có hàng ngàn lượt du khách, các nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước đến thăm, tìm hiểu, nghiên cứu cuộc sống và nét văn hóa  đặc sắc của đồng bào Bana qua thực tế cuộc sống của bà con làng Đê Doal. Đây là niềm vui, niềm vinh dự cho toàn thể bà con trong làng, đánh dấu kết quả quá trình đoàn kết, gắn bó vượt qua khó khăn của cán bộ và nhân dân ở làng. Buổi sáng trên làng Đê Doal, nắng tháng 3 vàng ươm nhẹ nhàng mơn man từng chồi lá xanh, bà con bắt đầu miệt mài với việc chăm sóc cho cây trồng. Tiếng gà eo óc gáy sáng báo hiệu ngày mới về trên làng văn hóa Đê Doal./.

Minh Hiếu

 

 

Người lập dị giữ cổ vật cho đồng bào Jrai


            Đến xã Ia Rtô, thị xã Ayun Pa (tỉnh Gia Lai), hỏi đến cái tên Rơ Ô Nang thì hầu như ai cũng biết. Ông được mệnh danh là người lập dị giữ cổ vật cho đồng bào dân tộc Jrai.

            Rơ Ô Nang còn được biết đến như một người “nghèo không ai bằng mà giàu cũng chẳng thua ai” trong vùng bởi trong căn nhà sàn tuềnh toàng của ông có nhiều vật dụng cũ kỹ nhưng có giá trị bằng hàng trăm con trâu kéo.

Những cổ vật vô giá

            Từng bị lấy cắp mấy chiếc ghè nên bây giờ hễ thấy người lạ hỏi xem cổ vật là Rơ Ô Nang lo sợ. Sau một hồi nghe giải thích, Rơ Ô Nang mới yên tâm cho chúng tôi xem những cổ vật quý trong nhà. Ông nói: “Người Jrai mình xem ngôi nhà sàn như phần thịt, còn cồng chiêng, ghè ché là phần hồn, là tín vật của thần linh. Đó còn là thứ tài sản vô giá của ông bà tổ tiên để lại. Ngày xưa cha mình giàu lắm, có đến hơn 200 con trâu và mấy chục con ngựa. Cha mình là người đầu tiên lập nên cái làng này đó. Là già làng nên phải có các đồ vật quý của đồng bào Jrai thì nói người dân mới nghe theo. Hồi đó, nhà mình nhiều đồ lắm, những cái ché này khi mình lớn lên đã thấy rồi. Cha mình bảo phải đổi hết 50 con trâu…”.

            Để chứng minh, Rơ Ô Nang đưa chúng tôi đến góc nhà sàn và chỉ vào một cái ché có chiều cao khoảng nửa mét, xung quanh trang trí hoa văn trông rất sắc sảo, có cả hình hài những con thú, những cánh rừng và hình ảnh người phụ Jrai trong trang phục truyền thống… “Đây là ché cổ. Nó lớn tuổi hơn cha mình rồi đó”, Rơ Ô Nang cho biết.

             Thừa hưởng truyền thống gia đình, đam mê sưu tầm đồ cổ, hễ nghe ở đâu có “đồ quý” là ông lại tìm đến. “Có lần mình nghe người Bana ở huyện Kbang (Gia Lai) nói về một cái ché cổ có thể thay đổi màu sắc. Vậy là mình cùng cha tìm đến hỏi mua. Cái ché đó có giá bằng 60 con trâu. Nhìn nó là cha mình ưng cái bụng rồi. Trên đường mang ché về, gặp trời mưa to, nước sông chảy mạnh, quần áo và đồ ăn rơi hết nhưng cha mình vẫn ôm khư khư cái ché không để nước cuốn trôi”. 

            Bây giờ, trong nhà Rơ Ô Nang có hơn 10 chiếc ché nhưng chỉ có 5 chiếc được xếp vào loại “hàng độc”. Những loại này giờ muốn mua cũng chẳng dễ tìm chút nào. Ngoài ché, chúng tôi phát hiện có thêm một chiếc khiên được treo trên cột nhà. Như đoán được sự tò mò của chúng tôi, Rơ Ô Nang giải thích: “Đây là cái khiên dùng để đánh trận, được làm bằng gỗ tốt, tên bắn, giáo, mác đâm cũng không thể làm thủng. Cái này mình mua ở Đăk Lăk năm 1950”.

            Rơ Ô Nang có hai bộ chiêng, nhưng ông quý bộ chiêng Ka Đơ nhất. Bộ chiêng cổ này gồm 8 cái (cái lớn nhất có đường kính 1 m, cái nhỏ 40 cm) có âm thanh rất trong, vang xa và chỉ được sử dụng vào những dịp có lễ đâm trâu. Rơ Ô Nang đã mua nó ở Đăk Lăk với giá 70 con trâu lớn. Ngoài những thứ “hàng độc” trên, Rơ Ô Nang còn sở hữu nhiều đồ vật quý của người Jrai như: trống được làm bằng gia trâu trên 100 năm tuổi, tù và để gọi đàn gia súc trở về khi mặt trời xuống núi…

Lưu truyền cho muôn đời sau

            Rơ Ô Nang vẫn còn nhớ như in ngày đứa con gái cưng của ông bị bệnh nặng cách đây 3 năm. Lúc đó, trong nhà hễ có thứ gì đáng giá từ vài chục nghìn đồng trở lên là ông bán để lấy tiền chạy chữa cho con. Tin Rơ Ô Nang có bộ chiêng quý đến tai giới săn lùng “cổ vật”. Họ tìm đủ mọi cách để gạ mua cho bằng được bộ chiêng quý. Thương con đến đứt ruột, nhưng những vật thiêng do ông bà để lại thì dù trả giá ngàn vàng ông cũng không bán. Nghĩ vậy nên Rơ Ô Nang quyết định giữ lại bộ chiêng mà chỉ đem bán đôi bò để chữa bệnh cho con. Nhắc đến con gái, giọng Rơ Ô Nang nghẹn ngào: “Mình chạy khắp nơi để chữa bệnh cho nó nhưng vẫn không khỏi. Giờ thì nó đã về với A Tâu (mất) rồi…”!

            Với Rơ Ô Nang, cuộc sống có thể túng thiếu, cơm ăn không đủ no, áo mặc không đủ ấm; nhà cửa dột nát, trống trước trống sau, nhưng chưa bao giờ ông có ý nghĩ bán đi những thứ mà tổ tiên để lại. Bởi, đơn giản ông nghĩ rằng, đây là tài sản chung của dòng họ, báu vật truyền đời. Ông vẫn luôn lấy làm hãnh diện về những thứ đồ vật vô hồn mà ông có. Chính vì điều này mà nhiều người dân trong vùng vẫn thường coi ông là con người lập dị.

            Đã từng kẻ gian đánh cắp đồ vật, nên Rơ Ô Nang luôn phải cảnh giác. Bộ chiêng quý Ka Đơ ông phải đem giấu kỹ ở gầm giường, khi làng có việc mới đem ra dùng. Đối với những chiếc ghè quý thì ông dùng dây xích khóa lại. Ông cho biêt: “Đã nhiều lần kẻ xấu  vào nhà, miệng thì hỏi mua nhưng bụng nó muốn lấy cắp của mình. Để mất những thứ này là có tội với ông bà tổ tiên, có tội với Yàng đó…”

            Gia cảnh nghèo khó nhưng Rơ Ô Nang rất “giàu trách nhiệm” trong việc gìn giữ cổ vật do tổ tiên để lại. Ông là người góp công rất lớn để lưu giữ, bảo tồn nét văn hóa đặc sắc của người dân tộc Jrai bên dòng sông Ba thơ mộng đầy huyền thoại. Ở khu vực tỉnh Gia Lai hiện nay, số người lưu giữ đầy đủ bộ sưu tập truyền thống cồng, chiêng, khiêng, ché hoành tráng như Rơ Ô Nang chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Do vậy, ông được người dân nơi đây yêu mến gọi là người lập dị giữ cổ vật cho đồng bào dân tộc Jrai.

Theo www.baodatviet.vn

 

 

 

 

Kỳ quái tục chôn nhiều người cùng mộ

 

            Mỗi khi có người chết, dân làng lại quật mồ dở nắp hòm nhét xác chết vào "mái nhà" của những tử thi đang trong giai đoạn phân hủy.

            Hàng trăm năm qua, hủ tục "sống ở cùng nhà, chết chôn cùng mộ" ghê rợn kia ở xã Ia Peng, một xã vùng sâu của huyện Chư Pảh, tỉnh Gia Lai vẫn luôn ám ảnh..

            Xã Ia Reng cách trung tâm TP Pleiku 70km, trong đó có hơn 30km là đường đèo núi hiểm trở đến rợn người. Từ trung tâm huyện Chư Pảh, để đến được "thủ phủ" của tục chôn chung, chúng tôi buộc phải chinh phục đèo Sê San bên vách đá dựng đứng, vực thẳm...

Nhà mồ khổng lồ

            Trên đỉnh đèo Sê San, muốn vào trung tâm vùng đất quật mồ, Rơchăm Phiên phải đổ xuống con đường đất đỏ trơn trượt dẫn vào làng Dúch 1.

            Để xóa tan nỗi lo sợ "xe vuột bánh lủi xuống vực" của ông khách nhát gan, Phiên kể chuyện: "Ia Reng là nơi sinh sống lâu đời của người Jrai, gồm 3 làng (thôn) Dúch 1, Dúch 2 và làng Kép. Điểm đặc biệt là mỗi làng đều có rừng nhà mồ. Mỗi rừng đều hiện diện bóng dáng của tục chôn chung huyệt mộ".
            Đến điểm cuối con dốc, Phiên bảo: "Chạy thẳng đụng núi, rẽ trái đụng núi, rẽ phải đụng rừng nhà mồ. Tao đứng ngoài này. Mày có gan thì vào đi".
Theo hướng chỉ tay của Phiên, chúng tôi lầm lũi tiến bước. Được khoảng 100 bước chân đã thấy bóng dáng những ngôi nhà mồ to đùng chìm lờ mờ trong màn sương dày đặc.

            Tiến sát rừng, khí lạnh toát ra từ sương núi, cây rừng bất chợt mang đến cảm giác bất an cho những kẻ bạo gan xâm phạm nơi được xem là cấm địa của rừng già. Không như rừng nhà mồ ở các buôn làng khác luôn nằm sâu trong rừng, tách biệt với buôn làng, rừng nhà mồ ở làng Dúch 1 án ngữ giữa khu dân cư.

            Nơi đây nấm mồ nào cũng to đùng, bên trong lổn ngổn đủ thứ của cải mà người sống trao cho người chết theo tục chia của như chiêng, ché, quần áo, bầu lồ ô, xà gạc, khố, giường tủ... Điều đặc biệt nhất là những ngôi mộ ở đây to lớn khác thường. Giọng run run, một già làng tên K’rin, cho biết: "Nhiều người nằm dưới đất nên phải làm to thôi".

            Trước khi tiến sâu vào rừng hái lá bép (loài lá rừng có vị ngọt kỳ lạ mà tê giác rất thích ăn, thường được đồng bào sử dụng nấu canh ống thụt từ lồ ô), già K’rin tiết lộ: "Có cái nhà ma hai ba người nằm nhưng cũng có cái 5 - 6 người ở cùng đấy".

Để tiết kiệm

            Anh Nguyễn Quang Lương, thư ký Đoàn Thanh niên thôn Dúch 1, giọng e dè khi nhắc đến rừng nhà mồ.

            Sau khi bật mí trước đây rừng ma nằm trên núi cao nhưng do người chết đông, hết đất chôn nên làng mới di dời xuống núi, chọn bìa rừng sát làng làm nơi cho "người chết sống", Lương khuyên chúng tôi không nên nán lại lâu trong rừng ma vì trong đó cây cối um tùm ẩn chứa nhiều rắn độc, khí độc.
           
Đề cập hủ tục chôn chung, Lương lắc đầu: "Mình là người ít tuổi nên không biết nhiều. Hỏi trưởng làng, già làng nó rõ hơn kia". Theo hướng dẫn của Lương, chúng tôi đến nhà ông Rơchăm Puih, trưởng ban mặt trận thôn.
           
Vào chuyện, Puih nói tỉnh bơ: "Lúc còn sống thì ở chung nhà, uống chung ghè rượu, tắm cùng con suối, leo cùng ngọn núi... thì khi chết phải chôn chung huyệt mộ thôi. Mộ nào càng to thì dưới đó chôn càng nhiều người. Khi nào cái hòm đầy thì thay cái hòm mới, chôn cạnh cái hòm cũ.
            Trò chuyện với một số già làng, chúng tôi biết thêm căn nguyên của hủ tục chôn chung là "để tiết kiệm".
 Già làng Rơchăm Phiếu năm nay ngoài 80 mùa rẫy, giọng sang sảng: "Ngày trước mỗi gia đình muốn có cái hòm chôn người chết cực lắm. Phải vào rừng sâu chọn cái cây lớn đốn hạ, sau đó dùng rìu, xà gạc đốn thành khúc, rồi đập bỏ lớp vỏ, tiếp đó khoét lõi.

            Làm được cái hòm phải mất sức của hơn hai chục thanh niên khoẻ mạnh, làm liên tục có khi cả tháng trời. Nếu mỗi người chết mà chôn riêng một cái hòm như vậy thì phí lắm. Tục chôn chung còn có nguồn gốc như vậy đó".

Thành Dũng

 

 

 

 
 

Người con ưu tú của đại ngàn Tây Nguyên

Ở Tây Nguyên có một người được các nghệ nhân cồng chiêng tôn vinh là cây cổ thụ về văn hoá cồng chiêng của đại ngàn. Gần như cả cuộc đời ông sống trọn nghĩa tình với những điệu Xoang cùng tiếng ngân vang của cồng chiêng Tây Nguyên . Đó là NSND Y Brơm.

Y Brơm sinh ra tại xã Lơ Pang, huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai trong một gia đình dân tộc Ba Na. Lên bảy tuổi, Y Brơm đã tập đánh chiêng, hễ ở đâu có đánh chiêng là cậu bé Y Brơm tìm tới. Lên 11 tuổi Y Brơm đã đòi cha mua cho một bộ đàn Kơ ní, đàn Goong và đàn Tơ rưng. Y Brơm thích đàn Kơ ní nhất cho nên chẳng mấy chốc đã sử dụng được thành thạo. Mỗi khi Y Brơm chơi đàn Kơ ní là mọi người lại xúm đến nghe.

Lớn hơn chút nữa cậu bé Y Brơm được anh Mi Im dạy chữ. Hồi ấy chưa có chữ quốc ngữ mà chỉ có cái chữ do ông Nay Đer làm ra để dạy cho đồng bào Ê Đê, Gia Rai và Ba Na. Ông Y Brơm nhớ lại: Hồi đó trong làng đã có một số người Kinh từ đồng bằng lên hoạt động cách mạng, trong số đó có anh Lê Tam sau này là Bí thư Tỉnh uỷ Gia Lai. Các anh dạy Y Brơm hát các bài hát ca ngợi Bác Hồ, ca ngợi Đảng Lao động Việt và những hiểu biết ban đầu về cách mạng.

Tháng 10.1954, vào lúc lúa rẫy bắt đầu chín, Y Brơm nhận tin được ra Bắc tập kết.

Tháng 9.1955, trong một buổi biểu diễn văn nghệ chung giữa đại biểu các dân tộc, anh Nay Quách thấy Y Brơm múa hay liền tuyển luôn về làm diễn viên của Đoàn Hát, Kịch Tây Nguyên. Cuối năm 1956, Đoàn Hát, Kịch  Tây Nguyên được bàn giao cho Bộ Văn hoá quản lý và đổi tên thành Đoàn Ca múa Nhân dân Tây Nguyên. Tháng 11 năm 1956, lần đầu tiên Y Brơm được nhận lương. Có tiền lương, Y Brơm tìm mua ngay chiếc đàn viôlông và quyển sách nhạc. Thời gian này, Y Brơm vừa múa vừa hát lại vừa đóng kịch. Đến năm 1957, Y Brơm thôi không hát để tập trung múa cho giỏi. Anh trở thành diễn viên múa sô lô khá nhất Đoàn và bắt đầu được giao sáng tác những điệu múa mới. Năm 1958, Y Brơm tốt nghiệp Trường Múa, bắt đầu từ đây ông tập trung vào việc biểu diễn và tham gia huấn luyện diễn viên múa cho Đoàn.

Y Brơm kể, vở múa “Kéo pháo” - tác phẩm đầu tay của ông được biểu diễn  vào 2.9.1958. Hôm đó Bác Hồ đến xem, tặng hoa và khen ngợi. Tiếp đó năm 1968, Y Brơm dựng vở “Múa trống Tây Nguyên” để biểu diễn cho khách quốc tế xem. Trước khi đi biểu diễn nước ngoài, Bác Hồ đã xem. Xem xong vở diễn, Bác gọi Y Brơm đến bảo: “Cháu giỏi lắm, sau này về dạy lại cho bà con Tây Nguyên nhé!”. Y Brơm xúc động muốn khóc và khắc ghi mãi lời Bác dạy trong suốt cuộc đời mình.

Sau giải phóng, về công tác ở quê hương, Y Brơm đã dành hết tình cảm, tâm huyết của mình cống hiến cho đồng bào Tây Nguyên yêu thương. Các tác phẩm “Múa trống Tây Nguyên”, “Múa Khiêl”, “Múa giã gạo đêm trăng” của Y Brơm đoạt giải thưởng Nhà nước. Ngoài ra, ông còn có hàng chục tác phẩm khác đoạt giải cao trong nước và quốc tế. Y Brơm là 1 trong 3 nghệ sĩ múa được phong tặng danh hiệu NSND đầu tiên năm 1984.

Trong suốt cuộc đời cống hiến cho nghệ thuật, NSND Y Brơm luôn hành động với một phương châm, đó là khôi phục, bảo tồn và phát triển. Với suy nghĩ như vậy nên NSND Y Brơm luôn cố gắng truyền dạy những gì mình thu lượm và chắt lọc được cho các thế hệ đi sau.

Bây giờ đã bước sang tuổi 71, nhưng NSND Y Brơm vẫn tha thiết cống hiến cho việc bảo tồn và phát triển nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên. Từ việc tổ chức lễ đón nhận bằng công nhận của UNESCO về Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác Di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại đến việc tổ chức Festival Cồng chiêng Quốc tế năm 2009 tại Gia Lai đều có sự góp công không nhỏ của NSND Y Brơm. Đặc biệt, ông vẫn lặn lội khắp nơi giúp cho lớp trẻ ở Tây Nguyên biết đánh chiêng, biết Xoang và biết giữ gìn những giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống đặc sắc.

Không chỉ có miệt mài với những điệu múa Xoang, với Cồng chiêng mà giờ đây người nghệ sĩ hơn 70 tuổi này đang cùng với những người nghệ sĩ tâm huyết khác bắt tay vào một dự án khá công phu nhưng cũng đầy ý nghĩa. Vợ chồng nghệ sĩ Y Brơm cùng với nhạc sĩ Lê Xuân Hoan, hiện đang là Giám đốc Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Gia Lai thực hiện đề tài sưu tầm, biên soạn và bảo tồn những làn điệu dân ca cổ của dân tộc Ba Na.

Mặc dù tóc đã bạc, gối đã mỏi, nhưng người nghệ sĩ, người con của đại ngàn Tây Nguyên cho rằng, đã là người nghệ sĩ thì không có nghỉ hưu. Muốn cho tác phẩm của mình không lỗi thời thì tác phẩm phải có cái mới. Nếu không đi nằm vùng, không cùng ăn cùng ở với đồng bào thì tự mình lạc hậu. Với suy nghĩ như vậy nên người nghệ sĩ già này vẫn đều đặn xuống xã uống rượu cần và đánh cồng chiêng với đồng bào.

Quốc Khánh-Lê Đông

 

 

Gương Sáng Nhà Giáo

“Tâm huyết, nhiệt tình, tận tụy, yêu nghề, ham học hỏi” là nhận xét của đồng nghiệp, phụ huynh và học sinh về thầy giáo Nguyễn Đình Hành giáo viên trường trung học cơ sở Chu Văn An huyện Đak Pơ.

              Sinh ra và lớn lên tại miền quê Cát Sơn, Phù Cát, Bình Định, năm 1995 tốt nghiệp chuyên ngành sư phạm Hóa - Sinh hệ cao đẳng trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn chàng sinh viên trẻ không về quê dạy học mà xin lên dạy học tại huyện An Khê, tỉnh Gia Lai. Được phân công về giảng dạy tại trường trung học cơ sở Chu Văn An (nay thuộc huyện Đak Pơ), một trường có bề dày truyền thống giảng dạy và học tập. Với kiến thức được học trong trường, với lòng yêu nghề, được giảng dạy ở ngôi trường có bề dày truyền thống, thầy giáo trẻ như được chắp thêm cánh. Thầy dốc lòng, dốc sức vào công việc giảng dạy. Với nỗ lực, cố gắng của thầy cùng với năng lực nghề nghiệp chẳng mất nhiều thời gian thầy đã chiếm được cảm tình của đồng nghiệp và học sinh. Được nhà trường tin tưởng giao cho nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 bộ môn hóa học, thầy đã trăn trở sưu tầm tài liệu, nghiên cứu chương trình, đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp đối tượng học sinh. Kết quả qua các kỳ thi học sinh giỏi bộ môn Hóa học cấp huyện hàng năm của trường đều đạt cao. Từ đó Thầy được Ngành triệu tập về bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi cấp huyện tham dự kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh. Thầy đã không phụ lòng tin của ngành, của phụ huynh. Hàng năm bộ môn Hóa học luôn có nhiều học sinh đạt học sinh giỏi cấp tỉnh. Kết quả 10 năm tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi cấp huyện của trường môn Hóa học lớp 9 do thầy bồi dưỡng là 92 em; học sinh giỏi cấp tỉnh là 58 em.

              Không chỉ riêng việc bồi dưỡng học sinh giỏi mà trong nhiệm vụ giảng dạy chính của mình thầy luôn tìm tòi nghiên cứu, đổi mới phương pháp giảng dạy, tích cực thí nghiệm, thực hành. Tại các Hội thi giáo viên dạy giỏi trước đây thầy luôn đạt là giáo viên dạy giỏi cấp huyện, cấp tỉnh. 2 năm được công nhận là giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh (2002-2003 và 2003-2004) và 3 lần được Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen về phong trào thi đua Hai tốt. Từ năm 2002 đến nay liên tục đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở.

              Ngoài giảng dạy thầy còn thường xuyên nghiên cứu khoa học viết sáng kiến kinh nghiệm dạy học, kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn và nhiều lĩnh vực khác được công nhận cấp huyện. Không chỉ giỏi về chuyên môn, với lòng nhiệt tình, tận tâm giúp đỡ đồng nghiệp, tinh thần trách nhiệm trước tập thể. Năm 2002 thầy được bầu làm chủ tịch công đoàn cơ sở nhà trường, năm 2004 được bầu làm Phó Chủ tịch Công đoàn giáo dục huyện khóa I. Nhận thêm nhiệm vụ mới thầy lại lao vào nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm công việc mới rồi cùng Ban chấp hành công đoàn cơ sở xây dựng khối đoàn kết nội bộ, triển khai thực hiện nhiệm vụ công đoàn, xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh. Nhiều năm liền Công đoàn nhà trường đều đạt danh hiệu “Vững mạnh xuất sắc” 3 lần được Liên đoàn Lao động tỉnh tặng bằng khen, năm học 2008-2009 công đoàn nhà trường được Công đoàn Giáo dục Việt Nam tặng bằng khen. Với cương vị Phó Chủ tịch Công đoàn giáo dục huyện thầy đã có nhiều đóng góp cho Ban chấp hành cùng Ban chấp hành hoàn thành nhiệm vụ hàng năm. Với những đóng góp của mình cho tổ chức Công đoàn năm 2008 thầy được Tổng Liên đoàn Lao động tặng “Kỷ niệm chương vì sự nghiệp xây dựng tổ chức Công đoàn”. Từ năm học 2008-2009 Bộ Giáo dục và Đào tạo có chủ trương ứng dụng Công nghệ Thông tin trong giảng dạy, thầy đã đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, từ việc nghiên cứu thiết kế bài giảng điện tử đến việc xây dựng Blog giáo viên và thiết lập Website cho nhà trường và là thành viên quản trị chính của Website trường trung học cơ sở Chu Văn An.

Website http://www.dhanhcs.violet.vn của cá nhân thầy là một trong những Website tiêu biểu của trang Thư vin trc tuyến Violet (http://violet.vn).

              Tại Hội nghị biểu dương những điển hình tiên tiến về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ba năm của huyện Đak Pơ tổ chức tháng 10 năm 2009 thầy được bầu chọn là một trong 17 cá nhân điển hình tiên tiến toàn huyện và là cá nhân duy nhất trong ngành Giáo dục được biểu dương.

LTK 

 

Vai trò của già làng trong tập hợp văn hóa cộng đồng

 

Đối với đồng bào dân tộc thiểu số Jrai hay Ba na, các già làng luôn đóng một vị trí quan trọng trong đời sống của cả cộng đồng. Ngoài đầu tàu gương mẫu, ngoài vị trí là điểm tựa tinh thần cho bà con trong làng, mỗi già làng còn giữ vai trò thiết yếu tập hợp, giữ gìn nét văn hóa của chính dân tộc mình.

Luôn đi đầu, gương mẫu đi đầu trong hầu khắp các hoạt động của làng, của xã, các già làng đóng vai trò tích cực dạy dỗ, giáo dục cháu con ở làng chăm ngoan, thảo hiền, biết nâng niu và phát huy nét đẹp của văn hóa dân tộc mình. Không chỉ nói bằng lời, các già làng còn tham gia bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa  mang đậm âm hưởng rất riêng của cộng đồng. Việc giữ gìn nét đẹp truyền đời của tổ tiên xưa để lại đôi khi chỉ đơn giản là cất giữ giàn chiêng quý, chắt chiu một làn điệu dân ca hay một bài cúng Yàng. Ý thức rõ trách nhiệm của mình, mỗi già làng đều có một cách làm hay để bảo vệ được từng nét văn hóa đó. Riêng đối với già làng Rơ Châm Ơm ở làng Al, xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Păh thì ông lại dành nhiều thời gian, công sức chăm chút các bộ cồng chiêng của mình. Đối với ông, gia tài lớn nhất đó là bộ chiêng. Bộ chiêng không chỉ có giá trị bởi được tính bằng cả đàn bò, đàn trâu mà do nó còn mang cả linh hồn của dân tộc mình. Niềm vui, nỗi buồn của mỗi người Jrai đều được gởi gắm vào tiếng chiêng, sự sang giàu, hạnh phúc cũng được tiếng chiêng bày tỏ. Chính vì thế, mặc cho cuộc sống đổi dời, ông vẫn luôn nâng niu bộ chiêng của mình, giữ gìn từng cách đánh chiêng, từng tập tục, lễ hội của làng như tài sản có giá trị lớn nhất.

Với những cách làm hiệu quả như thế, các già làng đã góp phần hạn chế tối đa sự mai một của nền văn hóa vật thể, phi vật thể trong đời sống hằng ngày ở các buôn, làng. Như những cây đại thụ sừng sững giữa núi rừng Tây Nguyên, các già làng ở hầu khắp các xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh ta vẫn luôn phát huy những mặt tích cực trở thành chổ dựa tinh thần vững chãi cho người dân các cộng đồng  dân tộc thiểu số, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn  hóa vững bền cùng thời gian./.

Minh Hiếu

 

 

Gia Lai 35 năm, những thành tựu to lớn

Tỉnh Gia Lai trước ngày giải phóng (tháng 3-1975) được biết đến như một chiến trường ác liệt, nơi đây những địa danh tên đất, tên người cũng đã đi vào những trang sử hào hùng của dân tộc. Từ ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, những quyết sách của Đảng và Nhà nước về Tây Nguyên là đòn bẩy quan trọng giúp cho sự phát triển của tỉnh Gia Lai.

Những ngày đầu sau giải phóng, Gia Lai bị chiến tranh tàn phá nặng nề, xuất phát điểm rất thấp, nông nghiệp chiếm trên 71%, cơ sở hạ tầng hầu như chưa có gì, dân cư một phần sống tập trung ở các trung tâm huyện, thị xã, số còn lại sống rải rác ở vùng cao, vùng sâu, vùng biên giới, đời sống thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần.

Trong 35 năm xây dựng và phát triển, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh qua các thời kỳ, ngày nay, Gia Lai đã trở thành một địa phương có tốc độ phát triển nhanh và khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực, đời sống của nhân dân các dân tộc từng bước được cải thiện. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức cao; quy mô nền kinh tế sau 35 năm tăng gấp 34 lần; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực và đúng hướng, đến năm 2009 tỷ trọng ngành nông -  lâm nghiệp chiếm 43,16%; công nghiệp - xây dựng chiếm 29,57% và dịch vụ chiếm 27,13%; GDP bình quân đầu người đạt 12,43 triệu đồng.

Từ một nền nông nghiệp lạc hậu, tự túc, tự cấp, năng suất thấp, đến nay đã hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên canh cây công nghiệp ngắn và dài ngày như: Cao su 76.450 ha, cà phê 76.600 ha, tiêu gần 5.000 ha, điều 20.260 ha, chè 1.154 ha; bắp 57.000 ha, mì 56.350 ha, mía 20.000 ha và gần 31.000 ha rau, đậu đỗ các loại; đã tạo ra trên 495.000 tấn lương thực, 68.000 tấn mủ cao su, 140.000 tấn cà phê nhân, 10.560 tấn điều nhân, 21.700 tấn tiêu, 5.400 tấn chè (búp tươi),… là nguồn nguyên liệu để phát triển công nghiệp chế biến,... Hiện nay, tỉnh đang triển khai kế hoạch trồng cao su trên đất lâm nghiệp gắn với giải quyết việc làm, phấn đấu đến năm 2015 sẽ có 125.000 ha cao su; đàn gia súc gia cầm tăng nhanh, hiện đàn bò có khoảng 336.500 con (bò lai chiếm 35%), đàn heo có 353.700 con.

Là vùng đất giàu tài nguyên, trong 35 năm qua, tỉnh đã bảo vệ và phát triển có hiệu quả tài nguyên rừng, khoáng sản, hệ thống sông suối gắn với bảo đảm cân bằng môi trường sinh thái. Sản xuất công nghiệp phát triển nhanh, với nhiều cơ sở sản xuất, nhà máy được đầu tư xây dựng như: Thủy điện, vật liệu xây dựng, công nghiệp khai thác khoáng sản, chế biến nông - lâm sản, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao, có thị trường xuất khẩu. Đã hình thành một số cụm công nghiệp với quy mô nhỏ, làm cơ sở để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động của tỉnh. 

Các ngành dịch vụ thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, vận tải, tư vấn... phát triển cả về cơ sở vật chất và chất lượng phục vụ, hệ thống phân phối hàng hóa, giao thông, thông tin liên lạc thông suốt từ trung tâm thành phố, thị xã đến tận vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Năm 2009, tỉnh và ngành chức năng đã chính thức mở đường bay thẳng Hà Nội - Pleiku – Hà Nội và tăng tần suất bay đi Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh; hoạt động xuất khẩu ngày càng được đẩy mạnh, một số sản phẩm của tỉnh đã có mặt trên thị trường trong nước và quốc tế. Từ một tỉnh gần như nhận trợ cấp hoàn toàn từ Trung ương, đến nay đã tự cân đối được 50% ngân sách trên địa bàn. Năm 2009 thu ngân sách đạt gần 2.000 tỉ đồng.

Gia Lai có 17 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm TP. Pleiku (đô thị loại II), 2 thị xã và 14 huyện, với 222 đơn vị hành chính cấp xã với rất nhiều công trình mới được xây dựng, bộ mặt của thành thị và nông thôn ngày một đổi mới. Các tuyến đường từ tỉnh xuống huyện, thị xã đã được đầu tư xây dựng, đường giao thông nông thôn từng bước được bê tông hóa và nhựa hóa. 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm. Tất cả các xã và hầu hết các thôn, làng, tổ dân phố đều có điện lưới quốc gia với 95% số hộ được sử dụng điện. 80% số hộ ở nông thôn được dùng nước sạch. 95% xã có báo đến trong ngày. Bình quân 74,6 máy điện thoại/100 dân (cố định và di động).

Cơ chế, chính sách và môi trường thu hút đầu tư của tỉnh ngày càng cải thiện. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có trên 2.700 doanh nghiệp đang hoạt động với tổng vốn đăng ký trên 12.000 tỉ đồng. Cửa khẩu Quốc tế Lệ Thanh đã được đầu tư xây dựng, cùng với việc hình thành khu vực Tam giác phát triển giữa 3 nước Việt Nam- Lào- Campuchia, khánh thành đường 78- Campuchia sẽ tạo điều kiện thuận lợi để khu vực cửa khẩu phát triển nhanh, TP. Pleiku sẽ trở thành tâm điểm của khu vực.

Song song với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, các lĩnh vực văn hóa xã hội cũng đạt được những thành tựu quan trọng. Đến nay, tỉnh không còn hộ đói kinh niên, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 14,32%; đời sống của đồng bào các dân tộc và nhân dân vùng căn cứ cách mạng luôn được quan tâm. Đại hội Đại đoàn kết các dân tộc thiểu số Tây Nguyên lần thứ nhất được tổ chức tại Gia Lai và Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số của tỉnh thành công đã khẳng định tinh thần đại đoàn kết của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với nước được cả cộng đồng quan tâm.

Đời sống tinh thần và trình độ dân trí của người dân được nâng cao, các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước được thực hiện có hiệu quả. Đến nay, 100% xã đã phủ sóng phát thanh, 95% xã phủ sóng truyền hình; 100% hộ được nghe đài phát thanh, 95% số hộ được xem truyền hình. Đặc biệt, việc tổ chức thành công Festival Cồng chiêng Quốc tế năm 2009 tại Gia Lai là sự khẳng định giá trị của Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại đã được UNESCO công nhận.

Ngành Giáo dục- Đào tạo phát triển khá toàn diện cả về quy mô và chất lượng, với hệ thống trường lớp học được đầu tư xây dựng kiên cố, đủ điều kiện phục vụ dạy và học. đến nay có 44 trường đạt chuẩn quốc gia; quy mô học sinh đạt 2.653 học sinh phổ thông/vạn dân; đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm bồi dưỡng chính trị, Phân hiệu Đại học Nông  Lâm TP. Hồ Chí Minh tại Gia Lai đã hoạt động ổn định, góp phần quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho tỉnh. Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân không ngừng được quan tâm; đã đẩy lùi được dịch sốt rét, khống chế được các dịch bệnh nguy hiểm, giảm tỷ lệ tăng tự nhiên dân số; đã cơ bản xóa mù do đục thủy tinh thể cho người nghèo trên địa bàn toàn tỉnh; số cơ sở khám-chữa bệnh, trang-thiết bị y tế, đội ngũ cán bộ y tế luôn được đầu tư và củng cố, đến nay bình quân có 5 bác sĩ/1 vạn dân, 48,2% trạm y tế xã có bác sĩ; 25% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.

Công tác xã hội hóa trên lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục, thể thao, vận tải,... đạt được những kết quả đáng khích lệ; với sự ra đời của Câu Lạc bộ Bóng đá Hoàng Anh Gia Lai, Trung tâm Đào tạo Bóng đá Hoàng Anh Arsenal- JMG, Bến xe Đức Long Gia Lai, Trường Phổ thông Nguyễn Văn Linh... Đó là những mô hình xã hội hóa tiêu biểu, đã góp phần quảng bá về hình ảnh của Gia Lai.

Hệ thống chính trị cơ sở không ngừng được củng cố, khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, sự đồng thuận trong xã hội ngày càng cao, an ninh chính trị-trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Có được những thành quả trên, trước hết là nhờ có đường lối sáng suốt của Đảng, sự quan tâm sâu sắc của Chính phủ, của các bộ, ngành Trung ương đối với tỉnh; đó là kết quả từ truyền thống đoàn kết, thống nhất, đổi mới, năng động, sáng tạo, quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn quân và nhân dân các dân tộc Gia Lai trong việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trong hơn 2 thập kỷ đổi mới. Đây là động lực mạnh mẽ để tỉnh Gia Lai phát triển đi lên.

Tự hào về những thành tựu đã đạt được trong 35 năm qua, Đảng bộ, quân và dân các dân tộc Gia Lai nêu cao tinh thần trách nhiệm, phấn đấu vì một Gia Lai phát triển nhanh, mạnh và bền vững; vì ấm no và hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà và cho cả cộng đồng, góp phần vào sự phát triển chung của cả nước.

Phạm Thế Dũng

(Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh)

 

35 năm giải phóng Miền :  Ông đại tá và khúc quân hành lặng lẽ 

 

 

25/04/2010 11:04 

Người đàn ông ốm yếu sống lặng lẽ giữa khu phố sầm uất, khiêm nhường, hàng xóm chẳng ai biết ông từng là Tham mưu trưởng Tỉnh đội Đăk Lăk, người vạch bản đồ chiến thuật Buôn Ma Thuột , lập công lớn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Bỏ lại phía sau quãng đời trai trẻ dâng hiến trọn vẹn cho cuộc kháng chiến, giờ ông dành trọn tâm huyết  từng ngày còn lại cho thân nhân những đồng đội đã hy sinh...

Tự hào một thời trai trẻ

Góc phố Lê Hồng Phong trông ra sân vận động Buôn Ma Thuột, khuất sau dãy cửa hàng ngồn ngộn những cuộn ống nước chất chồng cao ngất có một căn phòng chừng mươi mét vuông đơn sơ thanh bạch. Chủ nhân duy nhất của căn phòng ấy là đại tá về hưu Lê Minh Toản, còn dãy cửa hàng bán ống nước thuộc sở hữu của gia đình chị Lan, nữ cựu binh hơn hai mươi năm trước ông đã nhận làm con nuôi.

Quê ông Toản ở Bình Định. Sau 8 năm tập kết ra Bắc, năm 1962 ông đã được điều về xây dựng lực lượng bộ đội địa phương ở những vùng ven Đăk Lăk, đi lại giữa những khu căn cứ Chư Dú, Ea Kar, Krông Bông, coi vùng đất Tây Nguyên là quê hương thứ hai gắn bó đời mình.

Suốt thời trai trẻ, ông chỉ huy và trực tiếp chiến đấu hàng trăm trận đánh ngang dọc khắp mặt trận B3, B5, từ Sông Ba đến giáp mặt trận Đông Nam Bộ và chiến khu rừng Sác.

Những ngày Tháng Ba lịch sử, từ Sở Chỉ huy của Tỉnh Đội Đăk Lăk đóng giữa rừng già Ea Súp, tham mưu trưởng Lê Minh Toản vạch sơ đồ tiến công, giao nhiệm vụ cho hàng chục đơn vị bộ đội địa phương phối hợp nhịp nhàng với lực lượng chủ lực giải phóng thần tốc thị xã Buôn Ma Thuột.

Sau khi đất nước thống nhất, ông vẫn tiếp tục làm nghĩa vụ giúp nước bạn giải phóng thị xã Conhec tỉnh Mônđulkiri (Campuchia) và tham gia truy quét tàn quân Fulrô.

Miệt mài chiến đấu suốt thời thanh xuân ở chốn rừng xanh núi thẳm, lúc quay về thị xã nhận cương vị lãnh đạo ở thị đội Buôn Ma Thuột, ngày ngày ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân, mái đầu ông đã bạc trắng.

Đồng đội xót ông lẻ loi đơn chiếc nên ra sức mối mai. Cũng không ít phụ nữ rung động trước cảnh sống cô đơn của người cựu binh hiền hậu, tìm cách gần xa thổ lộ chân tình, mong cùng ông sớm khuya bầu bạn, nhưng ông đều nhẹ nhàng cảm ơn và từ chối.

Ông chỉ gần gũi chăm sóc một nữ chiến sĩ trẻ sớm mồ côi cha , nhận cô làm con gái nuôi, tìm thấy trong sự hiếu thuận của cô chút tình cảm gia đình ấm áp, chia sẻ.

Thương binh đi tìm hài cốt liệt sĩ

Mất 61% sức khỏe, dày đặc vết thương vì bom đạn Mỹ, năm 1984 sau nhiều năm làm Thị đội trưởng Buôn Ma Thuột, đại tá Lê Minh Toản về hưu, gia tài gói gọn trong chiếc ba lô vẫn chỉ có vài bộ quân phục và mấy cuốn sổ tay ghi chép chi chít các thông tin cần thiết để ông bắt đầu một hành trình mới đầy khó khăn gian khổ : quy tập hài cốt liệt sĩ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 Thôi thì, mỗi người một cách sống! Ngày nào còn làm được điều gì đó để tri ân và bù đắp thiệt thòi cho những đồng chí đã đổ xương máu hy sinh cho mảnh đất này, mình thấy ngày đó còn ý nghĩa, còn có ích, còn niềm vui ...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ban đầu, ông tự lặn lội kiếm tìm, đào bới theo trí nhớ và sơ đồ ông tự vẽ về vị trí những đồng đội thân thiết đã hy sinh. Sau, ông tìm theo lời kể và mách bảo của những người khác, tìm trong khối hồ sơ sổ sách quân đội còn lưu giữ, tìm trên các nghĩa trang, những ngôi mộ tập thể bị quên lãng vùi xóa giữa gió núi mưa ngàn.

Tìm được hài cốt và xác minh được nguồn gốc liệt sĩ nào, ông đều tìm mọi cách báo tin và tạo điều kiện giúp đỡ thân nhân liệt sĩ đến quy tập hoặc tiếp nhận tận nơi.

Lương hưu hạn hẹp nhưng tấm lòng rộng mở, ông không chỉ tìm kiếm mách bảo miễn phí mà còn giành dụm được những khoản nho nhỏ để giúp người này bữa ăn, người kia chút tiền tàu xe, hoa quả hương khói sưởi ấm hương hồn tử sĩ.

Cảm động trước nghĩa cử cao đẹp của đại tá Toản, lần lượt nhiều bàn tay và tấm lòng đã san sẻ góp sức cùng ông trên đường quy tập, trong số đó có nguyên Bí thư Tỉnh ủy Huỳnh Văn Cần, nguyên Tỉnh đội trưởng Đăk Lăk Lê Hữu Kiểng, nguyên Tỉnh đội phó Nguyễn Thái Phụng, nguyên trưởng ban Quân báo tỉnh Lê Văn Xừ...

Sau 26 năm miệt mài thực hiện hàng trăm chuyến luồn rừng lội suối trở về chiến trường xưa, đến nay đại tá Toản cùng đồng đội đã tìm được 220 hài cốt liệt sĩ, lập hồ sơ đánh dấu vị trí hy sinh hoặc đã mai táng của hơn 4.000 liệt sĩ thời kháng chiến chống Mỹ trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk.

Trong các địa điểm bị thời gian và biến động thiên tai vùi lấp mà ông từng đào bới phát hiện có nấm mồ tập thể chôn 29 liệt sĩ hy sinh năm 1962 ở  huyện Cư M’gar,  mộ 34 liệt sĩ hy sinh năm 1967 ở huyện Krông Buk, mộ 76 liệt sĩ hy sinh năm 1968 ở huyện Cư Kuin tỉnh Đăk Lăk ; Và mộ 14 liệt sĩ hy sinh năm 1972 ở huyện Phú Bổn tỉnh Gia Lai...

Những ngày mưa không vào rừng được, ông cùng đồng đội tìm đến nhau để hồi tưởng, sưu tầm, ghi chép, vẽ sơ đồ, đánh dấu lại những nơi có thể còn tìm thấy thêm hài cốt  liệt sĩ, làm tư liệu cho những chuyến đi khi trời hửng nắng. 

Mỗi người chọn một con đường ...

Sức khỏe suy kiệt dần với kết quả chẩn đoán “ đa mảnh kim loại còn nằm trong thân thể”, chứng rối loạn tiền đình khiến ông không ngồi được trên ôtô, nhưng hễ có dịp là ông lại nhờ người lai xe máy tiếp tục phần việc chưa thể ngưng được, bởi thống kê của ngành thương binh ghi nhận đâu đó giữa núi rừng và những cánh đồng bạt ngàn cà phê cao su kia, vẫn còn lẩn khuất tới gần năm trăm xương cốt liệt sĩ lạnh lẽo giữa lòng đất lạnh ...

Căn phòng nhỏ mỗi ngày ông đi về, vị trí trang trọng nhất là bàn thờ liệt sĩ, có bài vị của chiến sĩ vô danh, của những đồng đội thời máu lửa cùng chung chiến hào với ông, có cả di ảnh của những thân thích ruột rà cùng chung dòng máu.

Giữa bàn, một thùng nhựa phủ khăn đỏ lèn chặt cả tập dày hồ sơ danh sách quy tập tự tay ông nắn nót ghi chép từ năm này qua năm khác. Bên cạnh tủ sách lớn đủ loại tri thức đông tây kim cổ là  chiếc bàn hẹp dùng làm nơi tiếp khách, góc bàn dựng một khung hình thu nhỏ , ngắm kỹ mới nhận ra đó là bản chụp lại đủ loại bằng khen giấy chứng nhận về chiến tích lừng lẫy một thời của đại tá Lê Minh Toản, từ danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ cấp II cấp III, danh hiệu 60 năm tuổi Đảng cho tới thành tích chỉ huy xuất sắc nhiều trận đánh lớn, trong đó có chiến dịch Xuân 1975.

Khắp nhà, không chút dấu vết sinh hoạt của phụ nữ hay trẻ thơ. Tôi rụt rè hỏi vì sao ông không lập gia đình để có điểm tựa ấm áp sau quãng đời chiến trận gian khổ?  Ông cười “ Nhiều bạn trẻ đã hỏi tôi câu đó!” . Rồi tư lự, xa xăm :

- Khi đất nước hòa bình, tuổi mình đã cao, thân thể lại đầy thương tích, anh em ruột cũng đã hy sinh, tiếng gọi thiêng liêng của hương hồn liệt sĩ vang vọng trong tim mỗi ngày.

Thôi thì, mỗi người một cách sống! Ngày nào còn làm được điều gì đó để tri ân và bù đắp thiệt thòi cho những đồng chí đã đổ xương máu hy sinh cho mảnh đất này, mình thấy ngày đó còn ý nghĩa, còn có ích, còn niềm vui...

Theo Hoàng Thiên Nga / Tiền Phong

 

 

Phối hợp giữ vững an ninh trên địa bàn biên giới

Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Gia Lai, 3 xã biên giới Ia Dom, Ia Nan và Ia Pnôn thuộc huyện Đức Cơ là khu vực tập trung đồng bào dân tộc thiểu số Jrai sinh sống. Chỉ trong vòng hơn chục năm trở lại đây, từ một vùng nông thôn biên giới chậm phát triển, đời sống của nhân dân nơi đây không ngừng được cải thiện, trở thành những địa phương đi đầu trong công tác xóa đói giảm nghèo của tỉnh. Tuy nhiên, khi kinh tế phát triển, hệ thống giao thông, thương mại dịch vụ trong nước và quốc tế được mở ra thì an ninh trật tự trên địa bàn đã trở thành vấn đề nan giải. Đặc biệt kể từ năm 2001 đến nay, lợi dụng chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch và bọn phản động Fulro lưu vong đã đẩy mạnh các hoạt động chống phá, tuyên truyền kích động một bộ phận người dân thiếu hiểu biết gây rối trật tự trị an, biến khu vực hành lang cửa khẩu Lệ Thanh trở thành điểm nóng về tình trạng vượt biên trái phép trên tuyến biên giới của tỉnh.

Trước thực trạng trên, song song với công tác vận động quần chúng được triển khai một cách sâu rộng trên khắp các thôn làng biên giới, các đơn vị quân đội đứng chân trên địa bàn đã tăng cường phối hợp, hiệp đồng giúp đỡ hỗ trợ lẫn nhau nhằm giữ vững an ninh trật tự địa bàn, đấu tranh phòng chống hiệu quả các loại đối tượng phạm pháp trên khu vực biên giới. Một trong những điểm sáng trong công tác bảo vệ an ninh nông thôn thời gian vừa qua là sự phối hợp hiệp đồng chặt chẽ giữa các đơn vị trực thuộc Công ty 72 (Binh đoàn 15) với 3 Đồn BP Ia Kla, Ia Pnôn và Ia Nan ... Có thể khẳng định, đây chính là “mối lương duyên” hết sức cần thiết để tạo nên sức mạnh tổng hợp, tham gia hiệu quả vào các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế xóa đói giảm nghèo cho nhân dân cũng như trong công tác quản lý bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới. Bởi, với lợi thế là lực lượng tại chỗ, đối tượng để tập trung thực hiện công tác dân vận, xây dựng địa bàn đều là những thôn làng nằm trong khu vực biên giới nên việc triển khai nhiệm vụ, nắm bắt tình hình, trao đổi thông tin cho nhau rất thuận lợi.

Hơn thế, hiện nay có không ít thôn làng, chủ nhân phần lớn là “người của công ty” nên ý thức trách nhiệm tham gia bảo vệ địa bàn, bảo vệ biên giới của bà con không ngừng được nâng cao, qua đó giúp cho công tác quản lý nhân, hộ khẩu trên khu vực biên giới của các Đồn BP trở nên chặt chẽ và có chiều sâu hơn. Đại tá Chu Thế Võ, Giám đốc Công ty 72 cho biết: “Tính đến thời điểm hiện nay, diện tích cao su của công ty đã phát triển trên hầu hết các thôn làng biên giới thuộc địa bàn 3 Đồn BP Ia Kla, Ia Pnôn và Ia Nan quản lý. Chính vì lẽ đó, trong thực hiện nhiệm vụ cũng như trong cuộc sống hàng ngày, chúng tôi xác định lực lượng BĐBP và cán bộ, công nhân viên của công ty là “người trong một nhà”, là cánh quân chủ lực xung kích trên mọi mặt trận. Chúng tôi thường xuyên tổ chức lực lượng phối hợp tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường tuần tra bảo vệ biên giới, bảo vệ an ninh địa bàn, kịp thời phát hiện ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, nhất là những vẫn đề liên quan đến an ninh nông thôn và công tác quản lý sản phẩm, vật tư trang thiết bị tại các đội sản xuất. Sống trong cùng một mái nhà biên giới phải tạo mọi điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ...”.

Bám trụ từ nhiều năm qua trên vùng biên giới, hơn ai hết những “người lính công nhân” Công ty 72 và cán bộ, chiến sĩ BĐBP thấu hiểu vai trò trách nhiệm của mình đối với công tác vận động quần chúng xây dựng địa bàn và bảo vệ an ninh thôn xóm. Bên cạnh các buổi tổ chức họp dân, phổ biến các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho bà con, 2 lực lượng thường xuyên trợ giúp kiến thức, nhân lực lao động giúp các hộ gia đình nghèo trên địa bàn vươn lên làm chủ cuộc sống. Hình ảnh những người lính kiên trì mang cây lúa nước về với cánh đồng làng Tung, làng Sơn để thực hiện “cuộc cách mạng xanh” trong nông nghiệp, rồi hàng loạt những buổi trực tiếp ra đồng vừa làm vừa hướng dẫn, chuyển giao kỹ thuật trồng các loại cây công nghiệp cho bà con đã ngày càng trở nên thân quen trong hơi thở cuộc sống vùng biên. Chỉ riêng năm 2009, các đơn vị trực thuộc Công ty 72 và cán bộ, chiến sĩ 3 đồn biên phòng đã tổ chức gần 2 ngàn ngày công lao động, cấp phát cây, con giống giúp bà con phát triển kinh tế hộ gia đình, cải thiện đời sống...

Trong công tác phối hợp bảo vệ chủ quyền biên giới và an ninh nông thôn, sự phối hợp giữa 2 lực lượng đã hình thành thế trận quốc phòng an ninh liên hoàn, kịp thời nắm bắt, trao đổi thông tin cho nhau để từ đó giải quyết vụ việc phức tạp xảy ra trên địa bàn đạt hiệu quả cao. Trong năm 2009, lực lượng tự vệ Công ty và cán bộ, chiến sĩ 3 đồn BP đã phối hợp tổ chức hàng ngàn đợt tuần tra kiểm soát bảo vệ biên giới, bảo vệ địa bàn, xử lý nhiều trường hợp vi phạm qui chế biên giới, gây mất trật tự trị an, vận chuyển lâm sản trái phép, trộm cắp mủ cao su... Đặc biệt, những vụ việc liên quan đến an ninh nông thôn thời gian gần đây đã được “hạ nhiệt” nhờ mối quan hệ phối hợp hiệp đồng chặt chẽ giữa hai lực lượng cả trong nắm bắt thông tin cũng như xử lý vụ việc. Điển hình là đợt ra quân cao điểm đấu tranh phòng chống tội phạm của lực lượng tự vệ công ty và các Đồn BP Ia Kla, Ia Pnôn, bắt giữ 2 tên tội phạm truy nã trên khu vực cửa khẩu Lệ Thanh, xử lý giáo dục hàng trăm đối tượng bất hảo chuyên quậy phá, trộm cắp tài sản, đánh người gây thương tích, vận động nhân dân tự giác giao nộp 7 khẩu súng tàng trữ sử dụng trái phép... Phối hợp với Đồn BP Ia Nan, lực lượng tự vệ công ty đã triển khai công tác tuần tra kiểm soát chống nạn trộm cắp mủ cao su đạt hiệu quả cao, trong đó có vụ xử lý hàng chục đối tượng vi phạm có hành vi chống người thi hành công vụ, đuổi đánh bảo vệ và công nhân tại đội sản xuất.

Những kết quả đạt được trong công tác phối hợp xây dựng địa bàn bảo vệ an ninh nông thôn, an ninh biên giới của Công ty 72 với các đồn BP trên địa bàn huyện Đức Cơ thời gian qua đã tạo thêm sức mạnh mới xây dựng thế trận BP toàn dân ngày càng vững chắc, cải thiện tốt đời sống dân sinh, góp phần cùng chính quyền địa phương và các ngành đoàn thể giữ vững an ninh trật tự, tạo tiền đề giúp công ty thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ kinh tế quốc phòng trên khu vực biên giới.

Thái Kim Nga

 

Công ty 75 Binh đoàn 15

Giúp dân ổn định đời sống

 

 

08/06/2010

 

 

 

 

Đứng chân trên địa bàn hai huyện biên giới Đức Cơ và Ia Grai, một trong những điểm “nóng” về tình hình an ninh trật tự của tỉnh Gia Lai, thời gian qua, Công ty 75 (Binh đoàn 15) đã làm tốt công tác dân vận, giúp đồng bào các dân tộc trên địa bàn từng bước cải thiện đời sống về vật chất, tinh thần.

 

 

 

 

Phát triển kinh tế hộ gia đình

 

 

Đến làng Poong, xã Ia Dớk và làng Krêl, xã Ia Krêl (huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai), chúng tôi thật sự ngạc nhiên trước cảnh vật và đời sống của người dân nơi đây. Dọc các con đường vào làng bạt ngàn rừng cao su xanh mướt, đường sạch đẹp, những căn nhà khang trang… như nói với chúng tôi về cuộc sống no ấm của những chủ nhân trong làng.

 

 

Trước đây, làng Poong và làng Krêl là những vùng đất nghèo, chủ yếu đồng bào dân tộc Ja Rai sinh sống. Đồng bào chủ yếu làm nương rẫy, trồng mì, bắp, lúa... nên thu nhập bấp bênh. Nhằm tạo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế, đồng thời góp phần ổn định an ninh vùng biên giới, Công ty 75 (Binh đoàn 15) đã thực hiện chủ trương “Binh đoàn gắn với tỉnh, huyện; công ty gắn với huyện, xã; đội sản xuất gắn với thôn, làng”.

 

 

Công ty tổ chức cho gia đình công nhân gắn kết với các gia đình dân tộc thiểu số tại địa phương để giúp nhau phát triển kinh tế hộ gia đình. Từ đó, đồng bào dân tộc thiểu số biết tận dụng đất để sản xuất, nhận khoán vườn cây cao su, học kỹ thuật chăm sóc, khai thác mủ cao su… Đến nay, 100% hộ đồng bào dân tộc tại đây đều có cuộc sống ổn định. Năm 2010, thu nhập bình quân các hộ đạt hơn 4 triệu đồng/tháng. Nhà ông Rơ Mah Dơng, xã Ia Dớk (huyện Đức Cơ) có 6 người con thì 5 người là công nhân của Công ty 75.

 

 

Ông bảo: “Các con tôi đều có cuộc sống ổn định, đầy đủ. Riêng mình thì gắn kết với gia đình anh Lê Văn Dương – Tổ trưởng sản xuất tổ 2 thuộc Công ty 75. Mặc dù có nhiều đất nhưng trước đây gia đình mình rất nghèo. Sau khi được anh Dương hỗ trợ vốn, kỹ thuật… vào sản xuất, kinh tế nhà mình đã khá hơn, no ấm hơn”.

 

 

Ngoài việc giúp nhau làm kinh tế, các hộ gia đình còn thường xuyên qua lại thăm hỏi lẫn nhau như anh em ruột thịt. Thông qua đó, đơn vị cũng nắm được tình hình và kịp thời giải quyết những mâu thuẫn, giữ gìn an ninh trật tự địa phương. Thiếu tá Mai Thị Nghiệp – Đội trưởng Đội 3 (Công ty 75) cho biết: “Từ khi có chủ trương làm công tác dân vận gắn kết, đời sống của đồng bào thay đổi rõ rệt. Tình hình an ninh, trật tự trong làng rất tốt, không còn tệ nạn xã hội”.

 

 

 

 

Quả ngọt đầu mùa

 

 

Tiếp chúng tôi trong ngôi nhà đầy đủ tiện nghi và nụ cười tươi nở trên môi, anh Kpuih Klick – thôn trưởng làng Krêl cho biết: Từ ngày gia đình anh tham gia chương trình gắn kết của Công ty 75, đời sống thay đổi rõ rệt. Trước đây, cả nhà anh sống dựa vào 3 sào đất trồng mì, lúa và 4 sào đất trồng cà phê. Làm lụng vất vả nhưng chỉ đủ ăn.

 

 

Năm 2004, anh được nhận vào làm công nhân cao su của Công ty 75 và nhận giao khoán 5 ha đất trồng cao su. Hiện nay, thu nhập bình quân từ việc cạo mủ cao su của anh gần 4 triệu đồng/tháng, cộng với tăng gia chăn nuôi, gia đình anh đã có cuộc sống khấm khá. Anh tâm sự: “Mình sinh sống ở nhiều vùng, mỗi nơi chỉ ở một thời gian rồi bỏ đi. Nhưng ở đây mình đã thật sự ổn định và sẽ sinh sống lâu dài”.

 

 

Đến với các hộ dân trong xã Ia Dớk và Ia Krêl, đâu đâu chúng tôi cũng nghe nói đến hiệu quả của mô hình gắn kết hộ gia đình này. Để thực hiện tốt việc gắn kết, công ty chủ trương lấy thôn, làng làm địa bàn hoạt động, nhân dân địa phương là đối tượng vận động, mỗi cán bộ đảng viên, chiến sĩ, công nhân, người lao động là một chiến sĩ dân vận.

 

 

Cho đến thời điểm này đã có 263 hộ được gắn kết; đồng thời vận động được 157 cá nhân là thôn trưởng, già làng, bí thư chi bộ, các chức sắc, chức việc tôn giáo là những người có uy tín và các cá nhân tiêu biểu, điển hình tiên tiến trong học tập, làm kinh tế giỏi để vận động nhân dân làm theo, tạo được niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chính quyền.

 

 

Theo trung úy Hà Trọng Thảo, Trợ lý Dân vận Công ty 75, có nhiều thôn, làng thuộc huyện Đức Cơ đã cùng với đơn vị vận động nhân dân chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước, giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Tiêu biểu như các làng Ngo Le 1, làng Krêl, làng Khóp (xã Ia Krêl); làng Yít Rông 1, làng A, làng Blang (xã Ia Din); làng Phang (xã Ia Lang), làng Poong (xã Ia Dớk).

 

 

Đại tá Đỗ Văn Sang, Giám đốc Công ty 75 khẳng định: “Để làm tốt nhiệm vụ trọng tâm đẩy mạnh hoạt động sản xuất – kinh doanh, chăm lo đời sống cán bộ, chiến sĩ và người lao động; đồng thời giúp đồng bào các dân tộc trên địa bàn từng bước cải thiện đời sống mọi mặt, công ty rất coi trọng công tác dân vận. Cùng với triển khai nhiều chương trình sản xuất, kinh doanh phù hợp, chúng tôi kết hợp lồng ghép các hoạt động gắn với hỗ trợ cải thiện đời sống của đồng bào, từ đó tạo niềm tin trong nhân dân, thắt chặt tinh thần đoàn kết quân dân”.

 

 

 

 

Bài, ảnh: Đức Trung

 

 

Báo SGGP

 

 

 

 

Hoa của đất trên quê mới

 

 

08/06/2010

 

 

 

 

Tây Nguyên - vùng đất mà những người dưới xuôi khai khẩn mới hơn trăm năm nay - luôn dang rộng vòng tay đón chào hoa của đất. Cuộc thiên di của cư dân Việt trên đất Tây Nguyên thấm đẫm máu và mồ hôi để bây giờ có hàng nghìn thôn làng miền xuôi theo gót người di cư định hình và vươn lên mạnh mẽ trên đất Tây Nguyên.

 

 

 

 

Cuộc chiến trên vùng đất mới

 

 

Cuộc di cư lớn nhất của những người dưới xuôi lên Tây Nguyên phải kể đến sau khi nước nhà thống nhất năm 1975. Tây Nguyên đất rộng người thưa đang cần bàn tay, khối óc của người lao động. Một ngày đầu tháng 6 chúng tôi về xã Ia Blứh, huyện Chư Pưh, Gia Lai thăm một vùng đất Huế trên Tây Nguyên. Tiếp chúng tôi tại trụ sở xã, Bí thư chi bộ kiêm Chủ tịch HĐND xã Ia Blứh, ông Nguyễn Văn Đối cũng là một người con xứ Huế. Ông cho biết: Năm 1980 tỉnh Bình-Trị-Thiên đưa 370 hộ dân ở Phú Vang, Hương Thuỷ vào vùng kinh tế mới Điểm 8B xã Ia Le, huyện Chư Prông (Gia Lai-Kon Tum). Vào đến nơi không chịu đựng nổi đói khổ, sốt rét nên hàng trăm hộ đã bỏ về, bây giờ nhiều người trong số họ tỏ ra nuối tiếc.

 

 

Năm 1984 hai huyện này tiếp tục đưa thêm 90 hộ dân đến điểm kinh tế mới 8C - Ia Le. Ba mươi năm, thời gian không hẳn đã dài, song vùng đất này đã thay da đổi thịt biến đổi không ngừng. Xã Ia Le sau đó chia về cho huyện Chư Sê rồi năm 2009 lại tách tiếp về huyện Chư Pưh. Từ 2 điểm kinh tế mới ngày nào năm 2006 Ia Blưh hình thành nên một xã mới, tách khỏi Ia Le. 

 

 

Ông Nguyễn Văn Đối bồi hồi nhớ lại: Trước khi chúng tôi đến đây, xã Ia Le đã từng phải qua nhiều biến cố, vừa phải cảnh giác với bọn phản động còn sót lại trong rừng vừa phải đối mặt với kẻ thù vô hình là bệnh tật và đói kém. Từ khi vào đây đến năm 1990 năm nào cũng có người chết do sốt rét, riêng năm 1980 có hơn 30 người chết vì sốt rét, chướng khí rừng thiêng. 10 năm mới đầu lập nghiệp, thiếu đói, ốm đau luôn ám ảnh bà con, nhiều người chịu không thấu đã bỏ về, đi nơi khác. Tuy nhiên, sau đó rồi mọi việc dần ổn định và người dân yên tâm bám trụ cho đến bây giờ.

 

 

 

 

Những tỷ phú chân đất

 

 

Xã Ia Blưh hiện có 1.300 hộ/5.600 khẩu, trong đó làng Quái của người Jơ Rai - Ba Na có 51 hộ với 250 khẩu được định canh định cư từ năm 1999 và khoảng 40 hộ cư dân Nghệ An di cư tự do đến giai đoạn 1995-2000, còn lại là đồng bào gốc Huế.

 

 

Ông Nguyễn Văn Đối cho biết, những ngày mới lập nghiệp bà con còn nghèo khổ, song nhiều phong tục tập quán của xứ sở vẫn không đánh mất, như sự hiếu học. Cha mẹ làm lụng khó khăn vất vả, con đông, song hầu hết các gia đình đều cố cho con ăn học nên người.

 

 

Những năm đầu lập nghiệp trên quê hương mới người dân chỉ trồng các loại cây trồng ngắn ngày như ngô, lúa, đậu, sắn đắp đổi qua ngày. Dần dần họ phát hiện ra vùng đất này rất thích hợp với cây hồ tiêu và cà phê nên lấy ngắn nuôi dài chuyển đổi cây trồng sang 2 giống cây chủ lực này. Và đất không phụ công người, nhiều tỷ phú như hoa mọc lên từ đất.

 

 

Anh Võ Đức Thưởng, sinh 1980 là người đầu tiên ở Ia Bưh mua xe ô tô con phục vụ nhu cầu cá nhân từ 4 năm trước. Thưởng là con thứ 3 và là con út trong gia đình ông Võ Huế, một trong những hộ lao động giỏi của xã. Bây giờ ở tuổi 75, các con đã có gia đình, ông Huế chia thừa kế cho mỗi con một ít, còn lại 10 ha cho vợ chồng con út.  

 

 

Thưởng cho biết trước khi quay lại với hồ tiêu, cà phê, anh đã từng ly nông sang mở cửa hàng kinh doanh điện thoại di động, cho thuê rạp cưới... Tuy nhiên bây giờ các mặt bằng ấy anh đã cho thuê lại, trở về quản lý nông trang tiêu, cà phê. Mỗi năm doanh thu của vợ chồng anh 300 - 400 triệu đồng, thuộc loại trung bình trong làng.

 

 

Ở Ia Blưh người dân giàu khá đều, người nào khó khăn hằng năm cũng thu tầm 100 triệu đồng, người khá như anh Phan Kiến thôn Thủy Phú, Nguyễn Thanh Sơn thôn Phú Vinh, Mai Toàn, Đặng Cử thôn Phú Hà mỗi năm thu 500-700 triệu đồng.

 

 

Những người từ Nghệ An di cư tự do vào đây như ông Ngô Xuân Long (49 tuổi) quê Thành Sơn, Anh Sơn, Nghệ An cho biết: Năm 1995 khi vào thăm em rể thấy đất này màu mỡ quá nên đã quyết định đưa cả gia đình và dần dần kéo theo anh em họ hàng, người nọ dắt theo người kia vào lập nghiệp.  

 

 

Đến giờ cư dân gốc Nghệ ở đây đã lên đến gần 40 hộ. Tất cả đều làm ăn khá. Gia đình anh ngày mới vào chỉ đủ tiền dựng căn lều tạm và mua 1 cặp bò cày thuê. Dần dần lấy ngắn nuôi dài, đến nay anh có 2.000 trụ tiêu hơn 2.000 gốc, cà phê thu nhập tầm 400 triệu đồng.

 

 

Làng Huế trên Tây Nguyên

 

 

Từ quốc lộ 14 vào xã Ia Blứh, ngoài màu xanh trù phú của hồ tiêu, cà phê chúng tôi rất ấn tượng với những ngôi làng Huế trên đất đỏ ba zan. Những ngôi làng này gốc gác từ Phú Vang, Hương Thủy (Thừa Thiên - Huế) như đến đây ghép lại mà thành tên: Phú Vinh, Thủy Phú, Phú Hà, Lương Hà.

 

 

Làng Thiên An là ghép chữ thứ 2 trong tên mỗi tỉnh Thừa Thiên - Huế và Nghệ An mà thành, thay cho các tên thôn 1 thôn 2 vô cảm ngày nào. Trẻ em Ia Blứh có những cư dân thuộc thế hệ thứ 2 thứ 3 song vẫn rặt âm chừ mô răng rứa. Xóm cư dân Nghệ bên cạnh, con em vẫn giữ thuần giọng Nghệ An không lẫn vào đâu được.

 

 

Ông Nguyễn Văn Đối cho biết những ngày mới lập nghiệp bà con còn nghèo khổ, song nhiều phong tục tập quán của xứ sở vẫn không đánh mất, như sự hiếu học. Cha mẹ làm lụng khó khăn vất vả, con đông, song hầu hết các gia đình đều cố cho con ăn học nên người, nhiều gia đình có đến 3-4 con học đại học.

 

 

Hằng năm xã Ia Blứh có vài chục em đỗ đại học cao đẳng, dẫu rằng đến nay sau 4 năm chia tách gần 600 học sinh trung học cơ sở xã vẫn phải sang xã Ia le học nhờ.

 

 

Ông Võ Huế cho biết: Đa số đồng bào Thừa Thiên-Huế tin vào tín ngưỡng dân gian, nên khi ăn nên làm ra mỗi làng đều xây một am thờ. Cả cộng đồng Huế ở đây góp nhau xây Đình làng thờ thần vi bách tử.

 

 

Mối liên lạc giữa cộng đồng Huế trên Tây Nguyên với quê hương bản quán gắn bó mật thiết máu thịt hằng ngày. Này là mắm ruốc, mắm nêm, tôm mực cá tươi từ Huế mang vào. Mỗi ngày có một chuyến xe khởi hành từ Huế vào đây và từ đây ngược ra Huế. Nhiều gia đình ốm đau thai sản không đến Bệnh viện Gia Lai mà thuê xe chở thẳng về Bệnh viện Trung ương Huế.

 

 

Những ngày mới đi kinh tế mới, muốn trở ngược ra quê có khi lặn lội cả tuần, nhanh cũng mất 3-4 ngày, giờ đường sá thông thương, ăn cơm tối ở Huế, sáng hôm sau đã uống cà phê ở Ia Blứh. Làm được nhiều tiền, bà con mang về quê giúp đỡ họ hàng, xây lăng mộ cho tổ tiên. Đến mùa vụ lại thuê người từ Huế vào hái cà phê, tiêu vừa yên chuyện trộm vặt, vừa giúp người quê thêm chút tiền.

 

 

Tây Nguyên có khá nhiều vùng đất gắn chặt với miền Trung ruột thịt và xứ Bắc xa xôi. Sau những chuyến ly hương đầy nhọc nhằn, đôi khi cả tủi nhục, họ đã chọn được đất lành.

 

 

Còn nữa…

 

 

 

 

Huỳnh Kiên

 

 

Báo Tiền phong

 

 

 

 

 

 

 

Làng ngư phủ trên cao nguyên

 

 

08/06/2010

 

 

 

 

Với mặt hồ rộng 37 km², ngoài tác dụng cung cấp nước tưới cho 13.500 ha lúa nước tại các huyện phía Đông tỉnh Gia Lai, hồ Ayun Hạ còn là nơi hàng nghìn hộ dân đồng bào Bahnar ở 11 buôn làng tại xã Ayun, huyện Chư Sê và xã Chư A Thai, huyện Phú Thiện đánh bắt thuỷ sản gắn cuộc sống quanh năm với sông nước.

 

 

 

 

Giăng lưới cùng ngư phủ T’Lâm

 

 

Hồ Ayun Hạ (phía Đông tỉnh Gia Lai) có rất nhiều cá. Cá tự nhiên vốn đã nhiều nay được Công ty thuỷ sản miền Trung thả giống chăn nuôi nên cuộc sống của hàng trăm hộ dân sống quanh lòng hồ Ayun Hạ vốn đã ổn định từ nghề đánh bắt cá nay lại càng sung túc hơn xưa.

 

 

Đối với dân làng T’Lâm mỗi ngày dọc theo dòng sông Ayun hay chèo thuyền ra giữa lòng hồ thuỷ lợi Ayun Hạ đánh cá thường được gần hàng chục kg cá nước ngọt đủ để đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong cả tuần, phần còn lại được bán cho các tiểu thương cung cấp cho các chợ Phú Thiện, Ayun Pa… Cá ở đây nhiều nhưng chủ yếu vẫn là cá trắm, mè, cá quả… Với nguồn thuỷ sản phong phú như vậy nên nhiều lúc đánh bắt được nhiều con cá mè, trắm nặng hơn 10 kg. Tuy nhiên, khi đánh được cá to, người dân các buôn làng sống quanh hồ Ayun Hạ thường không vui vì cá to rất khó bán tại chợ Phú Thiện và tiểu thương thường trả giá rẻ từ 20.000-40.000 đồng một kg.

 

 

Hơn 40 năm gắn bó với dòng sông Ayu khi giận dữ lúc hiền hoà, Đinh Breng, làng T’Lâm, xã Ayun, huyện Chư Sê được xem là người đánh cá giỏi nhất vùng Tung Kê này. Theo nhận định của Đinh Breng, cách đánh cá của những ngư phủ trên sông Ayun rất khác người. Buổi chiều sau khi đi rẫy về họ chỉ ra sông buông lưới xuống để sáng mai ra thu lưới và cá về dùng. Điều đáng quý là đã bao mùa rẫy qua, thuyền lưới và cả cần câu của bất kỳ ai ở làng T’Lâm hay các buôn làng lân cận để qua đêm trên thượng nguồn sông Ayun hay lòng hồ Ayun Hạ chưa bao giờ bị mất.

 

 

Trời về khuya, sương trắng như tấm màn phủ xuống, khi phụ nữ và trẻ em làng T’Lâm chìm vào giấc ngủ, Đinh Breng tay cầm mái chèo, đốt điếu thuốc và nhắc tôi mặc thêm áo ấm. Ra bờ hồ Ayun Hạ, ông buông nhẹ mái chèo, chiếc thuyển độc mộc trượt nhanh theo dòng nước dần xa bờ.

 

 

“Mình buông lưới cách bờ chỉ chục mét thôi nhưng phải cẩn thận đấy. Đoạn nước này khá sâu.”. Đinh Breng vừa nhấc lưới lên đã thấy những chú cá mè nặng hơn 2 kg đang giãy giụa trong lưới. Breng gỡ cá bỏ vào thuyền và lặng lẽ chèo con thuyền tiếp tục xuôi theo dòng nước. Ngay tay lưới đầu tiên ông đã thu được hơn 16 kg cá chủ yếu là cá lóc và cá mè.

 

 

Trên bến, những chiếc thuyền khác cũng bắt đầu ra sông cùng gọi nhau những tiếng khẩu hiệu chỉ có người dân làng ngư phủ T’Lâm mới biết. Theo Đinh Breng, tại các buôn làng dựa vào cuộc sống sông nước như làng T’Lâm, một hương ước được vạch sẵn từ hàng chục năm về trước là những người đánh bắt cá giỏi được cộng đồng ghi nhận mới có thể chèo xuồng ra sông vào ban đêm để đánh bắt được nhiều hơn. Và sau đêm miệt mài thu lưới và thành quả lao động ngoài nương rẫy, bình minh vừa ló dạng cũng là lúc những con thuyền bắt đầu cập bến, ở đó người mua cá đã đợi sẵn để cung cấp cho chợ Phú Thiện…

 

 

 

 

Những buôn làng ngư phủ hình thành trong kháng chiến

 

 

Xã Ayun, huyện Chư Sê có lẽ là nơi duy nhất tại Tây Nguyên có đến 7 buôn làng mà người dân – chủ yếu đồng bào Bahnar - sống bằng nghề đánh cá dọc sông. Theo cụ Đinh Kpuih, già làng T’Lâm, ngay từ lúc mới lập làng, đời sống bà con sống quanh thượng nguồn sông Ayun vốn chỉ biết dùng thuyền độc mộc ra sông bắt cá nhưng thu được rất ít. Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chính nơi đây là nơi đồng bào Bahnar nuôi dấu cán bộ cách mạng, bộ đội. Đêm đêm thanh niên trong làng chèo thuyền độc mộc cùng bộ đội cụ Hồ vượt sông, mai phục dưới chân đèo Tung Kê tiêu diệt kẻ thù.

 

 

Phía bên kia dòng sông là các làng King Pêng, Plei Bông, Plei Trơk và Plei Hek, xã Chư A Thai, huyện Phú Thiện. Cả 11 buôn làng dọc theo thượng nguồn sông Ayun, quanh lòng hồ Ayun Hạ gắn với cuộc sống sông nước từ những năm kháng chiến chống Pháp.

 

 

Trong thời gian bám trụ với dân, bộ đội cụ Hồ huyện H2 cũ đã dạy cho dân làng T’Lâm cách câu cá, đan và thả lưới bắt cá dưới dòng sông Ayun từng bước cải thiện cuộc sống. Và cũng từ đấy, không riêng gì làng T’Lâm mà đời sống người dân tại các buôn làng lân cận như Tung Giang, Plei Trơk, Plei Hek, King Pêng… được cải thiện nhờ nguồn thực phẩm quý giá khai thác từ dòng sông Ayun.

 

 

Bao nhiêu mùa rẫy qua, cuộc sống của gần 350 hộ dân ngư phủ tại các làng T’Lâm, Tung Giang 1, Tung Giang 2… đã gắn bó mật thiết với dòng sông. Nhưng theo già Kpuih, làng T’Lâm là một ngôi làng có nhiều người đánh bắt cá giỏi nhất như Đinh Breng, Đinh A Thin, Đinh Yuk… Nghề đánh cá đã gắn bó với những đứa con làng T’Lâm, từ nhỏ đã theo cha ra bờ sông cầm cần câu cá. Trẻ con trong làng khi vừa lớn lên lúc biết đi cũng là lúc phải tập bơi, lên 10 tuổi đã được cha mẹ dạy cho cách dùng cần câu cá, thậm chí có đứa giăng lưới thành thục, biết canh con nước, ngọn gió để đặt câu, buông lưới.

 

 

Anh Đinh Đôk, làng Plei Trơk cho biết: Lúc trước, tôi sống ở xã H’Bông huyện Chư Sê nhưng đời sống gặp nhiều khó khăn khi không thể sản xuất, đất đai khô cằn và nhiều đá… Nhưng từ lúc chuyển cả gia đình về sống tại đây, lòng hồ Ayun Hạ đã tiếp thêm sức mạnh cho anh và nuôi cả gia đình.

 

 

Con sông Ayun hung hãn vào mùa mưa lũ là thế nhưng cũng là nguồn tài nguyên gần như bất tận đối với đời sống của bà con buôn làng. Từ giọt nước mát mang đến những vụ mùa bội thu, dòng sông này cùng với sức người đã góp phần hình thành nên những buôn làng ngư phủ ngay trên cao nguyên. Theo ông Rơmah Ngoan, Chủ tịch UBND xã Chư A Thai, huyện Phú Thiện, dòng nước thuỷ lợi Ayun Hạ vừa tưới mát cho cây trồng vừa mang lại nguồn thức ăn dồi dào cho bà con đồng bào Bahnar các làng King Pêng, Plei Bông, Plei Trơk và Plei Hek… trong xã. Do đã được trang bị kỹ năng đánh bắt cá ngay từ thời kháng chiến nên ngay thuỷ lợi Ayun Hạ chính thức chặn dòng vào năm 1994, cuộc sống của hàng trăm hộ dân đồng bào Bahnar quanh lòng hồ Ayun Hạ ngày càng no đủ, sung túc hơn xưa… .

 

 

 

 

Thanh Ngọc

 

 

Báo Đất Việt

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Người thổi hồn vào tre nứa

 

 

06/05/2010

 

 

 

 

Cuối tháng 4-2010, chúng tôi về với làng Bông, xã Lơ Ku (huyện Kbang, Gia Lai). Chiều ở làng Bông êm ả, hiền hòa. Khói lam chiều bắt đầu lan tỏa trên những nếp nhà sàn truyền thống mang cốt cách của người Bahnar, tiếng gọi nhau í ới của lũ trẻ tắm suối mới về, thi thoảng lại vang lên tiếng đàn tha thiết như níu giữ lòng người.

 

 

            Làng Bông với hơn 99% dân số là người Bahnar, là ngôi làng còn bảo lưu được nhiều nét văn hóa truyền thống của dân tộc.  Không những thế làng còn là nơi nuôi dưỡng một con người mà cuộc sống của ông luôn gắn liền với các thanh tre, thanh nứa, với những tiếng đàn lúc trầm, lúc bổng. Ông là Đinh Hoắt- nghệ nhân đan lát tài hoa của làng.

 

 

Sinh ra trong một gia đình Bahnar có truyền thống làm nghề đan lát, chế tác các loại nhạc cụ, điêu khắc tượng mồ nên ngay từ nhỏ, ông Đinh Hoắt đã biết và làm thành thạo các sản phẩm từ tre nứa. Ông cho biết: “Là con trai Bahnar thì ai cũng biết đan lát, nhưng để làm một cái gùi đẹp, một cái đàn hay thì ít người lắm, bởi người làm phải hiểu được truyền thống của dân tộc”.

 

 

Ông biết đan lát tất cả các loại nong nia, rổ rá…, đặc biệt là gùi. Gùi do tay ông làm bền, đẹp và mang đầy sắc màu dân tộc, được trang trí bằng những hoa văn truyền thống và trau chuốt một cách cẩn thận. Ông làm không phải vì mục đích bán kiếm tiền, mà làm để sử dụng trong gia đình hoặc biếu anh em họ hàng, làm vì lòng yêu nghề, vì lòng đam mê. Không những thế, ông còn là người biết chế tác và sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ truyền thống của dân tộc như: Đàn goong, đàn đinh tuk, đàn kni, sáo,… và thành thạo cả trong việc đẽo tượng mồ.

 

 

Có lẽ niềm vui lớn nhất của ông là được bầu bạn cùng những thanh tre, thanh nứa, khúc gỗ, hay dạo những khúc nhạc mình yêu thích. Dù đã ở tuổi 60, nhưng ông luôn miệt mài công việc. Ông tâm sự: “Mình vui lắm khi làm xong cái gùi, cái đàn, bởi nó là công sức của mình, ai mua cũng không bán, mình để giữ lại cho con cháu. Hôm nào không đụng đến đan lát, cái đàn mình cảm thấy khó chịu”. Những thanh tre nứa, khúc gỗ qua bàn tay gọt giũa của ông trở thành những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc. Nhìn đôi tay ông thoăn thoắt không ngừng nghỉ trên chiếc gùi đang làm dở, chúng tôi trào dâng sự mến phục.

 

 

Trời đã về khuya, chúng tôi chia tay ông. Làng Bông đang chìm dần trong giấc ngủ, nhưng ánh đèn nhà ông Đinh Hoắt vẫn sáng. Ông vẫn đang thức để tiếp tục thổi hồn cho tre nứa bảo lưu nét văn hóa truyền thống của dân tộc mình.

 

 

 

 

 

Xuân Toản

 

 

Báo Gia Lai

 

 

 

 

 

 

Mùa sát thú

 

 

07/06/2010

 

 

 

 

Khi những cơn mưa loi thoi đầu mùa làm nhú lên những mầm sống mới cho rừng cũng là lúc Tây nguyên vào mùa săn bắn. Qua rồi cái thời hãy còn những định chế ứng xử với thiên nhiên, bây giờ mọi móng vuốt của sự tàn nhẫn đang công khai nhằm vào bầy thú…

 

 


Người thợ săn hoài cổ

 

 

Khuôn trăng 14 nhuốm hơi sương ngả sang màu sữa loãng, rừng vẫn hầm hập nóng. Mùi tro quyện với mùi nắng vương xộc lên khô rát cả đầu chót lưỡi. Trận cháy rừng mới tràn qua lúc chiều. Ngọn lửa âm ỉ trong thân cây mục chốc chốc lại hực lên, thấp thoáng qua làn cây tựa con mắt đóng đèn đỏ khé…

 

 

Tôi cố nén hơi thở nóng rát, dò dẫm bước theo Oét. Trái với sự nôn nóng bạc nhược của tôi, Oét vẫn từng bước êm ái, chắc nịch. Ngọn đèn pha gắn trên mũ bình thản rỉa rói từng khoảng tối… Đã bao lần cây súng cạc bin nhướng lên rồi lại hạ xuống. Những con thú nhép bỏ không bắn. Anh đang cố tìm một con mang để đủ đãi đám bạn đang chờ…

 

 

Trong đám thợ săn gạo cội ở Gia Lai, Oét chưa phải là tay nức tiếng nhất nhưng cũng đủ để đám bạn săn nể phục. Vào tuổi 14 –15 Oét đã theo chân các thợ săn trong làng và cũng ở cái tuổi đó anh đã dám đi săn một mình. Cái vốn săn bắn dân gian được rèn thêm tài thiện xạ trong suốt mấy năm là bộ đội khiến người ta tin chắc rằng đã xách súng vào rừng là chẳng mấy khi Oét về không… Ấy thế nhưng Oét lại tỏ ra không đam mê công việc sát thú này cho lắm. Chỉ những khi bạn bè thật thân rủ anh mới đi. Đặc biệt chưa bao giờ anh lạm dụng tài săn bắn của mình để trục lợi. Là người Jrai, có lẽ lối ứng xử có tình với tự nhiên trong anh vẫn chưa mất.

 

 

Câu chuyện đi đường của anh đã khiến tôi được mở mang thêm nhiều về những quy ước trong săn bắt thú rừng của đồng bào địa phương…

 

 

Chẳng lâu lắc xa xăm, mới cách nay chừng mươi năm thôi, người Tây nguyên vẫn có thói quen đi săn tập thể. Tập thể ở đây có thể là một làng nhưng cũng có khi tới hai, ba làng – tùy theo đàn thú mà họ đoán định. Biết được nơi ẩn nấp của chúng rồi người ta bắt đầu khoanh vòng, dùng mõ, nồi niêu khua dồn chúng lại. Khi vòng rào cây rừng đã thít chặt được bầy thú, những người có kinh nghiệm nhất, dũng cảm nhất sẽ được lựa vào vòng trong. Mỗi người cầm một cây le dài, vót nhọn làm vũ khí. Với những loài hiền lành như nai, mang thì chẳng có gì đáng sợ. Nhưng với những loài hung dữ như heo rừng, nếu không có kinh nghiệm cũng có thể mất mạng như chơi…

 

 

Đó là những cuộc đi săn đầy hấp dẫn nhưng cũng hồi hộp đến ngộp thở. Trong tiếng mõ, tiếng kêu la xé rừng của bầy thú lồng lộn như điên dại để tìm lối thoát, người ở vòng trong phải tự mình lựa chọn cơ hội để diệt chúng. Nhưng bất luận là cơ hội nào thì những con thú nhỏ, những con thú mang thai nhất thiết phải để lại. Khi lượng thú bị giết áng chừng đã đủ chia, già làng sẽ cất tiếng hú ra hiệu dừng tay. Hàng rào sẽ được mở ra cho bầy thú thoát…

 

 

Giết thú chỉ vùa đủ ăn là một quy ước, nên dân làng không bao giờ giết thú dự trữ để ăn dần và không bao giờ giết cả bầy thú – dù bầy thú chỉ có một vài con… Thế nên trong lễ cúng sau mỗi cuộc đi săn, già làng bao giờ cũng “cắt nghĩa” với Yang rằng “Chúng tôi chỉ xin Yang vừa đủ. Nếu giết hết giống của Yang, xin Yang hãy cứ trừng phạt chúng tôi.”

 

 

Người thợ săn xưa kia dù giỏi mấy cũng chỉ được giết một số lượng thú nhất định. Vượt quá số lượng đó thì tự giác không đi săn nữa. Và với người dân tộc bản địa, có những loài thú không bao giờ họ đụng đến, chẳng hạn loài khỉ. Ngoài ra một số dòng họ còn kiêng những con “vật tổ” của mình như nhím, tê tê…

 

 

… Tiếng súng vang lên bất chợt làm tôi giật nẩy mình. Sau phút định thần, tôi lao theo Oét. Một con mang cái duỗi bốn chân nằm bất động, lưỡi thè ra như đang quờ ngọn cỏ. Đôi mắt trong veo vẫn mở một cái nhìn ai oán…

 

 


Những nẻo đường sát thú

 

 

Con suối cuối mùa khô chỉ còn đọng lại những vũng nước đầy rêu. Dẫu sao thì kiếm được chỗ có nước giữa rừng khoọc cũng đã may mắn lắm. Cả đám người xắng xở chuẩn bị cuộc nhậu. Họ là đám thợ săn ở xã Ia Chia, huyện Ia Grai, phía Tây của tỉnh Gia Lai, hôm qua cũng đi săn nhưng không được gì. “Trăng sáng quá mà cũng do mới bắn được con heo to, uống say quá không đi nổi” – Một thanh niên béo ú, đen trũi tên là Bin vừa xẻ thịt mang bằng những đường dao điệu nghệ vừa kể cho tôi nghe.

 

 

Chỉ khoảng mươi hôm nữa, khi những lớp cỏ non đầu tiên nhú lên sau những trận cháy rừng, khu vực phía Bắc Ia Chia và một vệt rừng khoọc gần biên giới sẽ trở thành những bãi săn đông đúc. Dân tận các xã cách xa 40, 50 km cũng tìm đến. Họ đi thành từng tốp có khi tới hai, ba chục người. Đấy là những cuộc đi săn gần như nguyên thủy. Một con chó với cây cuốc, cây nỏ, họ có thể săn bất cứ thú gì bắt gặp. Người có sức thì đào dúi. Người yếu sức thì rình bắn sóc, kỳ đà…

 

 

Cũng có lúc lang thang vài ba ngày trong rừng, đói khát đến lả người mà chẳng được con gì nhưng họ vẫn cứ đi. Với đồng bào dân tộc, hình như mùa săn đến là mùa trỗi dậy cái thú được hòa mình vào thiên nhiên hoang dã của họ. Sự tính toán hơn thua kiểu thượng mại, họ dường như không để tâm. Đi - đơn giản chỉ là để thỏa cái phản xạ của con người rừng núi - vậy thôi!

 

 

Kiểu đi săn nguyên thủy ấy dẫu gì thì cũng chỉ sát thú bậc thấp. Sát thú kiểu thương mại mới là điều đáng nói. Bin đã cho tôi hình dung cái khung cảnh sát thú ấy thế nào… Vào mùa cao điểm, chỉ riêng bãi săn ở Ia Chia này có hôm tụ tập đến cả hai chục tay súng. Người ta gọi lóng những cuộc sát thú ấy là “đi chợ”. Thôi thì đủ. Hiện đại thì AK, CKC; cổ điển thì súng kíp, calipđui… Đặc biệt cái thứ calipđui cổ lại được ưa thích hơn cả. Súng bắn đạn chùm, đã bắn là khó con nào chạy thoát; đạn lại dễ mua mà rẻ, chỉ cần được con kỳ đà nhỏ cũng huề vốn.

 

 

Chu cha, lúc ấy anh chẳng vào đây mà xem. Xe cộ rầm rầm, đèn pha quét sáng rừng. Có những người “ăn thua” cả tháng trời trong rừng, tàn sát bất kỳ loại thú nào họ gặp, chỉ trừ cọp (Rừng này có một con cọp, nhưng cứ đà này chẳng biết số phận nó còn kéo dài được bao lâu nữa). Được thú lớn thì về, được thú nhỏ thì họ mổ ruột, ướp phoocmôn, đào hố giấu rồi đi tiếp. Họ nắm “lý lịch” từng con thú lớn ở rừng này, có khi thuê cả người địa phương dẫn đi tìm…”

 

 

“Họ” là những ai thế? Bin cười ma mãnh phô cả hàm răng sún: “Ai mà biết được, nhưng có cả cán bộ đấy”. Ngừng một lát, Bin chép miệng: “Bây giờ người ta đi săn nhiều cũng phải thôi, “có ăn” quá mà. Một con mang vừa vừa cũng đã hơn triệu. Heo rừng thì cứ mỗi kí 180 ngàn. Con kỳ đà bằng cổ tay cũng gần trăm ngàn… Đó là chỉ mang đến các bà buôn trong làng thôi nhé. Ra đến Plei Ku thì cứ là gấp đôi. Buôn thú rừng bây giờ là “siêu lợi nhuận” nên các quán còn đặt cọc cả tiền trước nữa”…

 

 

Săn bắn bây giờ hóa ra là phương tiện kiếm sống với cả đồng bào dân tộc nữa. Chuyện của Oét kể chỉ để mà hoài cổ. Lối ứng xử có tình với tự nhiên xưa kia của ông bà đã chết bởi hiện thực trần trụi trước mắt – nói như Bin: “ Yang mà phạt thì bọn đi săn bằng “súng nhà nước” kia chắc chết hết rồi!”

 

 


Thú rừng hết chốn bình yên

 

 

Tây Nguyên bây giờ là nơi cung cấp thú rừng chính yếu cho “thị trường” cả nước. Chẳng còn khu rừng nào gọi là an toàn cho các loài thú ẩn nấp. Ngay như vườn Quốc gia Chư Mom Ray mà nạn săn bẫy trộm thú rừng cũng diễn ra như cơm bữa…

 

 

Ông Hồ Ngọc Thanh – Giám đốc Vườn cho biết mỗi năm Vườn thu giữ đến hàng ngàn bẫy của giới săn thú trộm. Cơ chế ta còn nhiều kẽ hở, cán bộ bảo vệ Vườn đi tuần, biết họ vào rừng chỉ để đặt bẫy thú nhưng không bắt được quả tang thì không thể xử lý...

 

 

Mới chỉ trong tháng 3-4/2010 Gia Lai đã bắt giữ 6 vụ buôn bán động vật rừng. Song, tất nhiên đấy chỉ là bề nổi của tảng băng chìm.

 

 

Người ta ước tính hàng năm trên địa bàn Tây nguyên, lượng thú rừng bị tàn sát phải đến vài trăm tấn. Chỉ riêng một thành phố Plei Ku, mỗi ngày cũng đã tiêu thụ cả tấn thịt thú rừng… Khách đến Tây nguyên đi nhậu bao giờ cũng tìm trước hết món đặc sản thú rừng. Thịt thú rừng bây giờ đã trở thành một thứ mặt hàng kinh doanh “siêu lợi nhuận” nên từ nhà hàng lớn cho đến các quán nhậu lẻ, gần như ở đâu cũng có thịt rừng. Quán đặc sản thú rừng mọc lên như nấm. Ngay dọc đường Phạm Văn Đồng, Lê Lợi - những con đường lớn nhất Plei Ku thịt thú rừng vẫn được bày bán công khai.

 

 

Các ngành chức năng biết đấy nhưng… cứ coi như là không biết. Mà biết thì làm sao nếu khách nhậu lại… chủ yếu là cán bộ? Đã có thời ở Gia Lai người ta ra quy định cấm cán bộ, công nhân viên ăn thịt thú rừng nhưng có lẽ không ai dám đi bắt “cán bộ” và chẳng ai dại xưng mình là “cán bộ” nên luật của “những người thích đùa” đã lặng lẽ trôi vào dĩ vãng!

 

 

Dân gian xưa có câu: “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”. Nước mắt của ai hay chính của núi rừng đang than vãn?!

 

 

Bài và ảnh: Ngọc Tấn

 

 

ThienNhien.Net

 

 

 

Vai trò của già làng trong đời sống xã hội ở Tây Nguyên

 

 

Từ khi các dân tộc Tây Nguyên còn sống trong thời kì cổ đại, với hình thức xã hội tự quản, thì những người chủ làng, chủ đất, chủ bến nước đã có vai trò rất lớn trong việc điều hành, quản lí bộ tộc, bộ lạc của mình.

 

Bộ máy tự quản đó trước tiên có lẽ điều hành theo phong tục tập quán, sau đó là theo luật tục. Trước khi bọn thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, bộ tộc Gia Jrai đã có Hỏa xá (Pơtau Pui-vua lửa), Thủy xá (Pơtau Ia-vua nước). Các vị này có ảnh hưởng lớn đến hầu hết các dân tộc ở Tây Nguyên. Tuy nhiên, Hỏa xá và Thủy xá không mang tính chất quản lí nhà nước, mà thật sự chỉ là những thầy cúng có uy tín, có thể giao tiếp được với đấng thần linh và được tất cả các dân tộc Tây Nguyên nể sợ. Song tất cả chỉ mới dừng lại ở hình thức của pháp luật sơ khai, đã ra đời trong một xã hội chưa phân hóa giai cấp, chưa có nhà nước. Các dân tộc Tây Nguyên nói chung đã trải qua hàng nghìn năm sống trong xã hội tiền quốc gia, tiền nhà nước như thế.

 

Đến cuối thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, chúng dựng lên bộ máy cai trị đầu tiên trong các buôn làng. Nhưng đa số các già làng vẫn một lòng bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân tộc, không làm tay sai cho địch. Nhiều tù trưởng, tộc trưởng, già làng người M’Nông, Gia Rai, Ê Đê, Xơ Đăng, Ba Na còn tổ chức làng chiến đấu, chặn đánh nhiều đợt càn quét của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Hỏa xá còn cho người thủ tiêu tên quan Pháp và đám tùy tùng khi chúng ngang nhiên xúc phạm đến uy danh của dân tộc.

 

Đặc biệt, từ khi có đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, vai trò của các già làng càng được phát huy. Các già làng, tù trưởng là những người tiên phong trong phong trào khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Trong thời kì chống Mỹ, cứu nước, nhiều già làng là những tấm gương sáng, hướng dẫn cộng đồng sản xuất giỏi, tập hợp quần chúng xây dựng làng chiến đấu, nuôi dưỡng cán bộ, bảo vệ cơ sở cách mạng. Họ đã không tiếc máu xương, của cải, sức lực, ra sức vận động dòng họ, cộng đồng đóng góp cho cách mạng, góp phần đưa cuộc kháng chiến của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn.

 

Khi nước nhà thống nhất, chính quyền dân chủ nhân dân được thiết lập trên khắp các buôn làng để quản lí, điều hành xã hội, các già làng hỗ trợ cho chính quyền làm tốt công tác vận động quần chúng, giữ vai trò hòa giải các mâu thuẫn trong cộng đồng.

 

Trải qua các giai đoạn lịch sử, Di sản văn hóa dân tộc được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và có sức sống lâu bền, chính là nhờ các nghệ nhân dân gian - già làng. Các dân tộc Tây Nguyên trải qua nhiều biến cố từ thời kì đồ đá đến thời kì đồ đồng, đồ sắt; từ các tộc người đến khi chia thành các nhóm địa phương; từ chỗ sống biệt lập, khép kín trong các buôn làng, đến khi có những mối giao lưu, quan hệ với các dân tộc khác, và cuối cùng là hòa nhập vào một quốc gia thống nhất. Lịch sử phát triển các tộc người Tây Nguyên hình thành trong tiến trình ấy. Song song với lịch sử phát triển tộc người là lịch sử của một nền văn hóa rất đậm đặc về trữ lượng và thể loại. Từ phương thức sản xuất, đến ăn, mặc, ở, lệ làng, các nghi thức tín ngưỡng, luật tục, nghệ thuật diễn xướng, tiếng nói, chữ viết đều được các già làng bảo vệ, giữ gìn... “Văn hóa cồng chiêng” đã trở thành di sản văn hóa chung của nhân loại, có giá trị đặc biệt trong việc tìm hiểu lịch sử.

 

Các già làng càng có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống. Do truyền miệng là phương thức duy nhất để lưu truyền văn hóa dân gian, các già làng chính là những nghệ nhân dân gian - những pho “sử sống” lưu giữ kho tàng văn hóa quý giá này. Vì vậy, cần đưa di sản văn hóa đó hòa nhập, thích nghi với xã hội mới. Đó là nguồn sữa quý nuôi dưỡng và bổ sung quan trọng cho nền văn hóa hiện đại. Giữ vững được di sản văn hóa dân tộc chính là những “kháng thể” để chống lại sự “xâm lăng” của văn hóa ngoại lai. Ai sẽ là người làm việc đó? Chắc chắn không ai khác là các nghệ nhân dân gian (già làng). Nếu không có họ thì sẽ không có tri thức văn hóa cổ xưa được nuôi dưỡng từ thế hệ này sang thế hệ khác và truyền lại cho đời sau. Chưa kể đến việc họ còn đóng vai trò là “tòa án” truyền thống, góp phần hòa giải, tạo sự đoàn kết, ổn định tình hình ở địa phương.

 

TS Đào Huy Quyền

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THÔNG BÁO

  Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính
Văn phòng UBND tỉnh thông báo việc tổ chức tiếp nhận phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính như sau: Địa chỉ tiếp nhận: Tại cơ quan: 01 Hai Bà Trưng, TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai; Tại Website của UBND tỉnh: http://www.gialai.gov.vn hoặc http://www.ubgialai.gov.vn; Chuyên mục: “Phản ánh, kiến nghị về thủ tục hành chính”; Email: caicachhanhchinh@gialai.gov.vn; Điện thoại: (059).824404, 824468, 211352, 211353

Thời tiết   (9/9/2010)
 KV phía tây tỉnh

20 - 300C

 KV đông-đông bắc

22 - 320C

 KV đông nam tỉnh

24 - 330C

 TP. Pleiku

20 - 300C

Đất & người vẫy gọi
Con người Gia Lai
Di tích & Thắng cảnh
Lễ hội & Phong tục
Thư viện ảnh Gia Lai

TRẢ LỜI ĐƠN THƯ GIỮA
CHÍNH QUYỀN & NGƯỜI DÂN

ĐỐI THOẠI DOANH NGHIỆP
VỚI CHÍNH QUYỀN

PHẢN ÁNH - KIẾN NGHỊ
VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

HƯỚNG DẪN THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH

ẢNH ĐẸP GIA LAI

Tượng đài văn hóa tại Pleiku